Luận văn: Công tác cán bộ cấp cơ sở quận Bình Tân - Thực trạng và giải pháp

Phân tích toàn diện Công tác cán bộ quận Bình Tân: Thực trạng & Giải pháp với phương pháp khoa học, ứng dụng thực tiễn hiệu quả tham khảo chuyên ngành

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2021

96
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan công tác cán bộ cấp cơ sở tại quận Bình Tân

Công tác cán bộ cấp cơ sở là nhiệm vụ trọng tâm, quyết định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị tại địa phương. Tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, việc xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh luôn được xem là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và chính quyền. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp phường là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, có vai trò triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật vào thực tiễn đời sống. Do đó, việc nâng cao chất lượng công tác cán bộ không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là yếu tố nền tảng cho sự phát triển bền vững của quận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Thấm nhuần tư tưởng này, Đảng và Nhà nước ta, cụ thể là Quận ủy và UBND quận Bình Tân, luôn chú trọng đến mọi khâu trong công tác cán bộ, từ quy hoạch, đào tạo, đánh giá đến bố trí, sử dụng. Một hệ thống quản lý nhà nước về cán bộ hiệu quả sẽ đảm bảo lựa chọn được những cá nhân có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Luận văn “Công tác cán bộ cấp cơ sở quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay - thực trạng và giải pháp” đã đi sâu phân tích một cách toàn diện, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc để đề ra những phương hướng, giải pháp đột phá.

1.1. Vai trò của cán bộ cấp cơ sở trong hệ thống chính trị

Cán bộ cấp cơ sở (phường, xã, thị trấn) đóng vai trò là hạt nhân lãnh đạo, trực tiếp đưa đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước đến với người dân. Họ là những người nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, đồng thời tổ chức, vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội tại địa phương. Hiệu quả công tác cán bộ ở cấp này ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ cấp cơ sở bao gồm các chức danh được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ, chịu trách nhiệm toàn diện trước cấp trên và nhân dân về mọi hoạt động trên địa bàn.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về cán bộ hiện nay

Công tác cán bộ là một chuỗi các hoạt động liên kết chặt chẽ, bao gồm: xác định tiêu chuẩn; đánh giá công chức cấp xã; quy hoạch cán bộ; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển cán bộ cơ sở; bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. Các hoạt động này phải tuân thủ nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo, đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch và khoa học. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một đội ngũ vừa “hồng” vừa “chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực công tác của cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

II. Phân tích thực trạng công tác cán bộ quận Bình Tân

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, công tác cán bộ cấp cơ sở tại quận Bình Tân giai đoạn 2015-2018 vẫn bộc lộ những hạn chế và thách thức cần khắc phục. Luận văn chỉ ra rằng, thực trạng nguồn nhân lực hành chính tại các phường tuy đã được cải thiện về số lượng và trình độ học vấn, nhưng chất lượng và năng lực thực tiễn chưa đồng đều. Khâu đánh giá cán bộ vẫn còn tồn tại những bất cập, đôi khi mang tính hình thức, nể nang, chưa thực sự phản ánh đúng năng lực và kết quả công việc cụ thể. Việc thực hiện một số chủ trương như luân chuyển, bố trí cán bộ đôi khi còn vướng mắc, chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng. Một bộ phận cán bộ còn có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức công vụ, chưa thực sự toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức. Những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan như áp lực công việc lớn do dân số đông, và nguyên nhân chủ quan như cơ chế, chính sách chưa đủ mạnh để tạo động lực, công tác kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên. Việc nhận diện đúng và đầy đủ những thách thức này là tiền đề quan trọng để đề ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.

2.1. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức viên chức

Tính đến cuối năm 2018, quận Bình Tân có 242 cán bộ, công chức cấp phường. Về trình độ, hơn 90% có bằng cao đẳng, đại học trở lên. Tuy nhiên, năng lực công tác của cán bộ không chỉ thể hiện qua bằng cấp mà còn ở kỹ năng xử lý tình huống, khả năng tham mưu và tổ chức thực hiện. Thực tế cho thấy một bộ phận cán bộ còn yếu về kỹ năng mềm, hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, và chưa theo kịp yêu cầu của cải cách hành chính quận Bình Tân. Sự chênh lệch về năng lực giữa các phường và giữa các vị trí công tác vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến hiệu quả chung.

2.2. Hạn chế trong công tác đánh giá công chức cấp xã

Công tác đánh giá công chức cấp xã tại một số đơn vị còn mang tính hình thức, chưa gắn với kết quả và sản phẩm công việc cụ thể. Luận văn trích dẫn: “không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến”. Quy trình đánh giá theo Nghị định 56/2015/NĐ-CP đã được triển khai nhưng việc lượng hóa các tiêu chí để đánh giá chính xác mức độ hoàn thành nhiệm vụ vẫn là một thách thức. Điều này dẫn đến việc khen thưởng, kỷ luật chưa kịp thời, chưa tạo ra động lực thực sự để cán bộ phấn đấu, rèn luyện.

2.3. Thách thức trong công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ

Công tác quy hoạch cán bộ tại một số phường còn dàn trải, thiếu tính tổng thể và chưa thực sự gắn kết với đào tạo. Việc đào tạo, bồi dưỡng đôi khi chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của vị trí công việc và định hướng phát triển của cán bộ. Nội dung công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa được đổi mới mạnh mẽ, nặng về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực hành, dẫn đến hiệu quả sau đào tạo chưa cao như mong đợi.

III. Phương pháp quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ hiệu quả

Để giải quyết những tồn tại, việc đổi mới công tác quy hoạch và đào tạo là giải pháp mang tính chiến lược và nền tảng. Quy hoạch cán bộ phải đi trước một bước, đảm bảo tính “động” và “mở”, không khép kín trong từng địa phương. Cần chủ động phát hiện, đưa vào quy hoạch những nhân tố trẻ, có năng lực, triển vọng và phẩm chất đạo đức tốt để có kế hoạch bồi dưỡng, thử thách. Song song với đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải được cải tiến toàn diện. Nội dung đào tạo cần bám sát yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh, tập trung vào việc nâng cao kỹ năng thực tiễn, năng lực giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo. Hình thức đào tạo cần đa dạng, kết hợp giữa học tập tập trung và tự học, giữa lý luận và thực tiễn, gắn đào tạo với vị trí quy hoạch. Đặc biệt, cần chú trọng bồi dưỡng về lý luận chính trị, đạo đức công vụ và kiến thức quản lý nhà nước trong bối cảnh mới. Việc đầu tư bài bản cho quy hoạch và đào tạo chính là đầu tư cho tương lai, góp phần xây dựng một đội ngũ cán bộ kế cận vững vàng, đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của quận Bình Tân.

3.1. Tối ưu hóa công tác quy hoạch cán bộ theo hướng mở

Công tác quy hoạch cán bộ cần được thực hiện một cách khoa học, dân chủ và công khai. Quy trình rà soát, bổ sung quy hoạch phải được tiến hành thường xuyên, đảm bảo sự kế thừa, chuyển tiếp liên tục giữa các thế hệ cán bộ. Cần xây dựng tiêu chí quy hoạch rõ ràng cho từng chức danh, kết hợp giữa tiêu chuẩn chung và yêu cầu đặc thù của địa phương. Nguyên tắc “mở” cần được phát huy, sẵn sàng đưa vào quy hoạch những cán bộ từ các đơn vị khác nếu đủ tiêu chuẩn, nhằm khắc phục tư duy cục bộ, khép kín.

3.2. Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ toàn diện

Chương trình đào tạo cần được thiết kế lại theo hướng hiện đại, giảm tải lý thuyết kinh viện, tăng cường các chuyên đề thực hành, xử lý tình huống và các buổi đối thoại chính sách. Cần liên kết với các cơ sở đào tạo uy tín để cập nhật kiến thức mới về quản lý đô thị, kinh tế số, cải cách hành chính quận Bình Tân. Bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích và bắt buộc cán bộ tự học, tự rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc.

IV. Bí quyết cải cách chính sách và luân chuyển cán bộ cơ sở

Bên cạnh quy hoạch và đào tạo, chính sách và cơ chế sử dụng cán bộ đóng vai trò quyết định trong việc tạo động lực và nâng cao hiệu quả công tác cán bộ. Một hệ thống chính sách cán bộ hợp lý, đặc biệt là chế độ tiền lương, phụ cấp và các đãi ngộ khác, sẽ là đòn bẩy quan trọng để cán bộ yên tâm công tác, toàn tâm cống hiến. Cần nghiên cứu và áp dụng các chính sách thu hút nhân tài, đặc biệt là các sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, về làm việc tại cấp phường. Song song đó, công tác luân chuyển cán bộ cơ sở cần được thực hiện một cách bài bản, khoa học. Luân chuyển không chỉ nhằm mục đích khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín mà còn là cơ hội quý báu để cán bộ được rèn luyện, thử thách trong môi trường mới, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Việc bố trí cán bộ chủ chốt không phải là người địa phương cần được tiến hành thận trọng, có lộ trình và kế hoạch cụ thể. Quá trình này phải gắn liền với việc đánh giá, giám sát chặt chẽ để đảm bảo cán bộ luân chuyển phát huy được năng lực và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

4.1. Xây dựng chính sách cán bộ tạo động lực và giữ chân nhân tài

Cần có cơ chế đãi ngộ tương xứng với vị trí việc làm và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Chính sách cán bộ cần quan tâm đến cả đời sống vật chất và tinh thần, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, dân chủ, khuyến khích sự sáng tạo. Việc xem xét khen thưởng, đề bạt phải công bằng, minh bạch, dựa trên năng lực và cống hiến thực tế, qua đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, thu hút và giữ chân được những cán bộ, công chức, viên chức giỏi.

4.2. Thực hiện luân chuyển cán bộ cơ sở một cách khoa học

Việc luân chuyển cán bộ cơ sở phải dựa trên quy hoạch và nhu cầu công tác thực tế. Cần xây dựng kế hoạch luân chuyển chi tiết cho từng cán bộ, xác định rõ mục tiêu, thời gian và vị trí công tác. Trước khi luân chuyển, cần làm tốt công tác tư tưởng và trang bị những kiến thức cần thiết về địa bàn mới. Sau luân chuyển, cấp ủy và lãnh đạo cần thường xuyên theo dõi, hỗ trợ và đánh giá khách quan để có phương án bố trí, sử dụng phù hợp sau khi kết thúc thời gian luân chuyển.

V. Hướng đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Bình Tân

Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp từ quy hoạch, đào tạo đến chính sách và luân chuyển sẽ tạo ra một bước chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở tại quận Bình Tân. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Một đội ngũ cán bộ mạnh sẽ là động lực then chốt thúc đẩy quá trình cải cách hành chính quận Bình Tân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về cán bộ, và củng cố niềm tin của nhân dân. Kết quả của những nỗ lực này sẽ được thể hiện qua sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp, qua sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững và an ninh chính trị ổn định trên địa bàn. Đây là một quá trình đòi hỏi sự quyết tâm chính trị cao của toàn hệ thống, sự vào cuộc trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, và đặc biệt là sự nỗ lực tự rèn luyện không ngừng của mỗi cá nhân cán bộ, công chức. Con đường phía trước còn nhiều thách thức, nhưng với định hướng đúng đắn và các giải pháp khả thi, công tác cán bộ quận Bình Tân chắc chắn sẽ đạt được những thành tựu mới.

5.1. Lộ trình ứng dụng các giải pháp tại 10 phường của quận

Việc triển khai các giải pháp cần có lộ trình cụ thể, có thể bắt đầu bằng việc thí điểm tại một vài phường trước khi nhân rộng ra toàn quận. Quận ủy, UBND quận cần ban hành kế hoạch chi tiết, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng cơ quan, đơn vị, đặc biệt là Phòng Nội vụ. Cần tổ chức các buổi tập huấn, quán triệt để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn bộ hệ thống quản lý cán bộ cấp phường, đảm bảo các giải pháp được thực thi một cách đồng bộ và hiệu quả.

5.2. Dự báo hiệu quả công tác cán bộ sau khi đổi mới

Khi các giải pháp được áp dụng thành công, hiệu quả công tác cán bộ sẽ được nâng lên rõ rệt. Chất lượng tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ sẽ được cải thiện. Tình trạng quan liêu, sách nhiễu sẽ giảm, đạo đức công vụ được đề cao. Nền hành chính công sẽ trở nên chuyên nghiệp, hiện đại và thân thiện hơn. Quan trọng nhất, đội ngũ cán bộ sẽ thực sự là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, góp phần xây dựng quận Bình Tân ngày càng văn minh, giàu đẹp.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ 1. Khái niệm cán bộ, công tác cán bộ, cấp cơ sở a) Một số khái niệm - Cán bộ: Nghĩa của từ cán bộ nhìn từ góc độ chiết tự, “Cán” là gánh vác, cán đáng một công việc nhất định trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị, trong một cộng đồng xã hội. “Bộ” là bộ phận, một phần trong toàn thể. Cán bộ có thể hiểu là đảm nhận một bộ phận, đảm đương một trọng trách nhất định trong hệ thống tổ chức.

Tại tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947, Người đã đề ra khái niệm về cán bộ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Những quan điểm, chỉ dẫn của Người là kim chỉ nam cho Đảng, Nhà nước ta trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là trong công tác xây dựng xây dựng lề lối, tác phong, chuẩn mực đạo đức, năng lực làm việc. của đội ngũ cán bộ. Điều này có ý nghĩa lớn lao đối với quá trình cải cách hành chính (CCHC) ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong tác phẩm “Từ điển tiếng Việt 2003”, tác giả Hoàng Phê đã đưa định nghĩa về cán bộ: Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước. Cán bộ Nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị. Tuy nhiên, do tính chất chính trị nên “cán bộ” được quy định cụ thể hơn trong Luật cán bộ, công chức (số 22/2008/QH12) của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (ban hành ngày 13/11/2008) quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở 13 quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh , ở xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”. Như vậy, cán bộ được hiểu theo nghĩa chung nhất là người công dân Việt Nam, có chức vụ lãnh đạo, quản lý, làm việc trong các cơ quan, tổ chức Đảng ủy, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội hoặc đảm nhiệm 1 chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; hình thành từ cơ chế bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt và được phân công công tác… có trách nhiệm quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách.

- Công tác cán bộ: Công tác cán bộ là tổng thể các biện pháp của các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể trong xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển, điều động cán bộ; bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,… nhằm phát huy năng lực đội ngũ cán bộ theo hướng bố trí số lượng hợp lý, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ (vừa hồng vừa chuyên), đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu hoạt động của hệ thống chính trị trong tình hình mới. Công tác cán bộ bao gồm: việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng; xác định tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ và đội ngũ cán bộ, những tiêu chí nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ và thực hiện đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ: quản lý, đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, bảo vệ chính trị nội bộ và thực hiện chính sách cán bộ. b) Vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở Hệ thống tổ chức quản lý hành chính của Nhà nước ta đến nay gồm 4 cấp: Trung ương - tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - quận, huyện, thị xã, thành 14 phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc thành phố - Xã, phường, thị trấn. Hệ thống quản lý này được tổ chức theo một ngành dọc: Từ trên xuống là trung ương - địa phương và cơ sở; từ dưới lên là cơ sở - địa phương và Trung ương.

Vậy, nói đến cấp xã, phường. thị trấn là nói đến cấp cơ sở. Cấp cơ sở về cơ bản là mô hình thu nhỏ của một hệ thống chính trị tổng thể cấp trên, gồm có: Đảng bộ cơ sở, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể quần chúng trong 1 địa giới hành chính và số dân cư của xã/phường/thị trấn đó quản lý. Chính quyền cơ sở có tư cách pháp nhân rõ ràng, được pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý nhằm thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cấp cơ sở trong một xã (phường, thị trấn) thuộc tỉnh hoặc thành phố của một quốc gia.

Trong cơ cấu đó, Đảng bộ cơ sở đóng vai trò là hạt nhân lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể chính trị - xã hội, nắm vai trò lãnh đạo việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những nguyên tắc trong việc hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở: + Đảng bộ cơ sở, Ban Chấp hành Đảng bộ (Đảng ủy) cơ sở lãnh đạo toàn diện bằng cách ban hành các nghị quyết, định hướng các nhiệm vụ trọng tâm, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp cơ sở, kiếm tra cán bộ, công chức về việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời lựa chon nhân sự để giới thiệu vào các vị trí trong bộ máy chính quyền cấp cơ sở. + Chính quyền địa phương (HĐND và UBND) là nơi trực tiếp điều hành, quản lý xã hội duy trì trật tự, an ninh, ổn định chính trị; tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đồng thời cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng bộ cơ sở bằng các nghị quyết, quyết định. 15 + Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội có vai trò thay mặt nhân dân tham gia vào công tác xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước ở địa phương và giám sát công tác thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.

Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể có vai trò tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc tại địa phương. Như vậy, cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị các cấp (Trung ương, Tỉnh - thành phố trực thuộc Trung ương, Quận - Huyện - Thành phố trực thuộc Tỉnh, Xã - Phường - Thị trấn), nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc trưng của bộ máy quyền lực chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta, bao gồm các tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân, được vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. - Cán bộ cấp cơ sở Cán bộ cấp cơ sở là toàn bộ là những người được bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ hoặc chức danh nào đó trong hệ thống chính trị ở cấp xã (phường, thị trấn) có trách nhiệm thực hiện lãnh đạo, tổ chức, điều hành, triển khai các nhiệm vụ ở địa phương và phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình trước tập thể, trước nhân dân và trước cấp trên của mình. Ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua dự thảo và ban hành Luật Cán bộ Công chức.

Trên cơ sở đó, ngày 22/10/2009, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (phường, thị trấn)”. Theo đó, chính quyền cơ sở các cấp gồm có các chức danh cán bộ, công chức sau: + Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy xã/phường/thị trấn. 16 + Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND xã/phường/thị trấn. + Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã/phường/thị trấn.

+ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã/phường/thị trấn. + Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản xã/phường/thị trấn. + Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã/phường/thị trấn. + Chủ tịch Hội Nông dân xã (áp dụng với đơn vị có có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam và có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp).

+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã/phường/thị trấn. + Trưởng Công an xã/phường/thị trấn. + Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự xã/phường/thị trấn. + Công chức Văn phòng - thống kê xã/phường/thị trấn.

+ Công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (áp dụng với thị trấn, phường) hoặc công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); + Công chức Tài chính - kế toán xã/phường/thị trấn. + Công chức Tư pháp - hộ tịch xã/phường/thị trấn; + Công chức Văn hóa - xã hội xã/phường/thị trấn. - Số lượng CBCC chính quyền cấp cơ sở được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp cơ sở, cụ thể như sau: + Chính quyền cấp cơ sở loại 1: không quá 25 người; + Chính quyền cấp cơ sở loại 2: không quá 23 người; + Chính quyền cấp cơ sở loại 3: không quá 21 người. - Số cán bộ hoạt động không chuyên trách ở cấp cơ sở: + Chính quyền cấp cơ sở loại 1: không quá 22 người.

+ Chính quyền cấp cơ sở loại 2: không quá 20 người. + Chính quyền cấp cơ sở loại 3: không quá 19 người. Khái quát quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác cán bộ 17 - Khái quát quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Quán triệt sâu sắc tinh thần của Chủ nghĩa Mac - Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác cán bộ của Đảng ta, đồng thời Người cho rằng đó là cái gốc của sự nghiệp cách mạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ