Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam đang trải qua thời kỳ cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động dồi dào, mỗi năm bổ sung thêm hơn 1.000.000 người bước vào độ tuổi lao động. Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước chỉ giải quyết được việc làm cho khoảng 75% đến 80% nguồn cung nhân lực mới, hoạt động xuất khẩu lao động được Đảng và Nhà nước xác định là một hướng chiến lược quan trọng, vừa tạo việc làm, tăng thu nhập, vừa mang lại nguồn ngoại tệ từ 1,5 đến 2 tỷ USD hàng năm cho đất nước.

Trong các thị trường tiếp nhận lao động của Việt Nam, khu vực Đông Bắc Á gồm ba đối tác chủ chốt là Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản luôn chiếm tỷ trọng áp đảo với trên 80% tổng số lao động xuất cảnh mỗi năm. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật về số lượng và nguồn kiều hối, hoạt động xuất khẩu lao động sang khu vực này đã phát sinh nhiều rủi ro và hạn chế nghiêm trọng. Tình trạng người lao động tự ý chấm dứt hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài làm việc và cư trú bất hợp pháp gia tăng đột biến, khiến năm 2005 thị trường Đài Loan từng tạm ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam ở một số ngành, và đến tháng 8 năm 2012, phía Hàn Quốc đã chính thức tạm đình chỉ gia hạn Bản ghi nhớ về Chương trình cấp phép việc làm (EPS).

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị của tác giả Bùi Thu Thủy, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Chi, tập trung đánh giá toàn diện thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á giai đoạn 2005 – 2013. Đề tài làm rõ nguyên nhân các hạn chế, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm ổn định thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và tính bền vững cho công tác xuất khẩu lao động quốc gia đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phân công lao động quốc tế và mô hình dịch chuyển lao động di cư (Push - Pull Theory). Lý thuyết này chỉ rõ lực đẩy từ nước xuất khẩu là áp lực dư thừa nhân lực, tiền lương thấp và thất nghiệp cục bộ; trong khi lực hút từ các nước nhập khẩu Đông Bắc Á là mức chênh lệch thu nhập cao hơn từ 5 đến 8 lần, kết hợp với xu hướng già hóa dân số làm suy giảm nghiêm trọng nguồn nhân lực trong độ tuổi sản xuất.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) và lý thuyết tái sản xuất sức lao động để giải thích mối tương quan giữa trình độ học vấn, kỹ năng nghề, năng lực ngoại ngữ với mức thu nhập và khả năng thích ứng văn hóa của người lao động. Khung phân tích làm rõ 5 khái niệm trọng tâm: Xuất khẩu lao động, Thị trường nhập khẩu lao động, Thực tập sinh kỹ năng (TTS theo chương trình JITCO Nhật Bản), Chương trình cấp phép việc làm (EPS Hàn Quốc), và Quản trị hậu xuất khẩu lao động. Nghiên cứu cũng đúc kết kinh nghiệm quản lý di cư lao động từ Philippines và Thái Lan – nơi thiết lập thành công mô hình hợp đồng chuẩn và kiểm soát tỷ lệ cư trú bất hợp pháp dưới ngưỡng 2%.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với phương pháp trừu tượng hóa khoa học nhằm nắm bắt bản chất các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong phân phối và trao đổi sức lao động xuyên biên giới. Về phương pháp phân tích thực chứng, luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, phân loại so sánh và đối chiếu dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 2005 – 2013.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Cục Quản lý lao động Ngoài nước thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, cùng các báo cáo chuyên đề của Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam và tổ chức đối tác nước ngoài. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ dữ liệu thống kê của hơn 600.000 lượt lao động Việt Nam được phái cử sang Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản trong giai đoạn khảo sát 9 năm, kết hợp mẫu khảo sát sâu từ 200 hồ sơ phái cử tại các doanh nghiệp dịch vụ tiêu biểu. Việc lựa chọn phương pháp này bảo đảm tính khách quan, cho phép nhận diện chính xác xu hướng biến động số lượng, cơ cấu ngành nghề và các biến số ảnh hưởng đến hành vi vi phạm hợp đồng của người lao động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Đông Bắc Á duy trì vị thế là thị trường tiếp nhận lao động lớn nhất của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2013. Tổng lượng lao động xuất cảnh sang khu vực này tăng trưởng từ khoảng 45.000 người vào năm 2005 lên mức đỉnh điểm gần 75.000 người vào năm 2013, chiếm bình quân từ 82% đến 88% tổng số lao động xuất khẩu của toàn quốc. Đài Loan là thị trường tiếp nhận quy mô lớn nhất với hơn 50% thị phần, tiếp theo là Hàn Quốc chiếm khoảng 25% và Nhật Bản chiếm xấp xỉ 15%.

Thứ hai, cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam tập trung chủ yếu vào các công việc phổ thông. Nhóm ngành sản xuất chế tạo và xây dựng chiếm tỷ lệ cao nhất với 68%, nhóm dịch vụ gia đình và hộ lý chăm sóc sức khỏe chiếm khoảng 22% (chủ yếu tập trung tại Đài Loan), còn nhóm nông nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản chiếm 8%. Lao động kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao chỉ chiếm chưa đầy 2%.

Thứ ba, tình trạng vi phạm kỷ luật và cư trú bất hợp pháp gia tăng ở mức báo động đỏ. Tỷ lệ lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng nhưng trốn ở lại làm việc bất hợp pháp tại Hàn Quốc trong giai đoạn 2011 – 2012 có thời điểm vượt mức 45%, dẫn đến hệ quả chính phủ Hàn Quốc ngừng gia hạn Chương trình EPS vào tháng 8/2012. Tại Đài Loan, tỷ lệ bỏ trốn trong khối giúp việc gia đình vượt ngưỡng 10%, gây ra nhiều nguy cơ đóng cửa thị trường.

Thứ tư, tiền lương thực tế của người lao động có sự phân tầng rõ rệt: lao động tại Nhật Bản và Hàn Quốc đạt thu nhập bình quân từ 1.000 đến 1.400 USD/tháng, trong khi tại Đài Loan đạt mức 600 đến 800 USD/tháng, tạo động lực kinh tế to lớn nhưng cũng tạo áp lực tài chính đối với các khoản vay ban đầu.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu phân tích qua các biểu bảng trong luận văn (như Bảng 2.2 về lượng lao động phái cử và Biểu đồ 2.1 về diễn biến thị trường) chỉ ra rằng tăng trưởng quy mô chưa đi đôi với nâng cao chất lượng. Sự sụt giảm đột ngột số lượng lao động xuất cảnh trong năm 2005 và năm 2012 phản ánh tính dễ bị tổn thương của thị trường xuất khẩu lao động trước các rào cản chính sách quốc tế.

Nguyên nhân cốt lõi của các tồn tại trên bắt nguồn từ ba yếu tố:

  1. Gánh nặng chi phí ban đầu quá lớn, người lao động phải vay nợ từ 3.000 đến 5.000 USD để chi trả phí dịch vụ, buộc họ phải tìm cách ở lại làm chui với mức lương cao hơn 30% đến 50% nhằm hoàn vốn.
  2. Công tác đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng và rèn luyện tác phong công nghiệp của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động còn mang tính hình thức, thời lượng đào tạo ngắn dưới 3 tháng.
  3. Cơ chế phối hợp quản lý nhà nước và chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, chưa hình thành mạng lưới việc làm liên kết sau khi người lao động về nước.

So với mô hình quản lý khép kín của Philippines, Việt Nam thiếu một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện từ khâu phái cử đến khâu tái hòa nhập thị trường lao động trong nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tái cấu trúc và phát triển bền vững hoạt động xuất khẩu lao động sang Đông Bắc Á:

  1. Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước:

    • Khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý, đàm phán ký kết lại các hiệp định song phương và Bản ghi nhớ đặc biệt với Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan nhằm mở rộng chỉ tiêu tiếp nhận.
    • Thiết lập cơ chế tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, giảm mức đặt cọc và chi phí trung gian xuống 40%, giúp người nghèo tiếp cận thị trường hợp pháp.
    • Tăng cường thanh tra, siết chặt việc cấp phép và thu hồi giấy phép đối với các doanh nghiệp có tỷ lệ lao động bỏ trốn vượt quá 5% trong năm.
    • Phấn đấu đạt mục tiêu giảm tỷ lệ lao động cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc và Đài Loan xuống dưới 15% trong giai đoạn 2015 – 2020.
  2. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động:

    • Đầu tư chuẩn hóa cơ sở vật chất, nâng thời lượng đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng nghề lên tối thiểu 400 giờ học trước khi xuất cảnh.
    • Minh bạch hóa toàn bộ các khoản thu phí dịch vụ theo đúng quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, xóa bỏ tình trạng môi giới trung gian bất hợp pháp.
    • Thành lập văn phòng đại diện thường trực tại Tokyo, Seoul và Đài Bắc để quản lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và can thiệp kịp thời các tranh chấp phát sinh của người lao động.
  3. Nhóm giải pháp đối với bản thân người lao động:

    • Chủ động nâng cao trình độ tay nghề, đạt chứng chỉ ngoại ngữ tối thiểu tương đương TOPIK cấp 2 (tiếng Hàn), JLPT N4 (tiếng Nhật) hoặc TOCFL cấp 2 (tiếng Trung).
    • Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật nước sở tại, tôn trọng văn hóa bản địa và thực hiện đúng thời hạn hợp đồng đã ký kết.
  4. Nhóm giải pháp về quản lý hậu xuất khẩu lao động:

    • Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia kết nối cung - cầu việc làm cho lao động hết hạn hợp đồng về nước.
    • Phối hợp với các khu công nghiệp và doanh nghiệp FDI của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan tại Việt Nam để tiếp nhận nguồn nhân lực có kinh nghiệm, bảo đảm mức lương khởi điểm từ 10 đến 15 triệu đồng/tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động Ngoài nước, các Sở LĐ-TB&XH địa phương sử dụng làm căn cứ thực tiễn để điều chỉnh quy định cấp phép, xây dựng chính sách tín dụng hỗ trợ việc làm ngoài nước và xây dựng chiến lược đàm phán song phương.
  • Doanh nghiệp dịch vụ phái cử lao động: Các giám đốc điều hành, cán bộ tuyển dụng và chuyên viên đào tạo định hướng có thể ứng dụng các đề xuất trong việc thiết kế lộ trình đào tạo kỹ năng, xây dựng cơ chế kiểm soát rủi ro bỏ trốn và nâng cao uy tín thương hiệu đối với đối tác Đông Bắc Á.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Kinh tế: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản trị nhân lực, Kinh tế quốc tế có thể khai thác hệ thống dữ liệu chuỗi 2005 – 2013 và khung lý thuyết về phân công lao động quốc tế phục vụ các công trình nghiên cứu mở rộng.
  • Người lao động và gia đình có định hướng đi làm việc ở nước ngoài: Giúp người lao động nắm vững thông tin về chi phí, mức lương thực tế, quyền lợi bảo hiểm và các rủi ro pháp lý tại Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản để chuẩn bị tốt nhất về ngoại ngữ và tâm lý.

Câu hỏi thường gặp

Thị trường Đông Bắc Á giữ vai trò như thế nào trong hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam? Khu vực Đông Bắc Á với ba thị trường tiếp nhận chính gồm Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản tiếp nhận hơn 80% tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2013. Đây là thị trường mang lại mức thu nhập bình quân cao nhất và đóng góp tỷ trọng kiều hối lớn nhất cho kinh tế Việt Nam.

Tại sao Hàn Quốc tạm dừng Chương trình EPS với Việt Nam vào tháng 8 năm 2012? Phía Hàn Quốc tạm ngừng gia hạn tiếp nhận lao động mới theo chương trình EPS do tỷ lệ lao động Việt Nam tự ý bỏ trốn và ở lại cư trú bất hợp pháp sau khi hết hạn hợp đồng tăng cao vượt ngưỡng kiểm soát, có thời điểm chiếm trên 45% tổng số lao động phái cử.

Người lao động Việt Nam tại Đông Bắc Á chủ yếu làm việc trong những nhóm ngành nào? Theo kết quả nghiên cứu thực tế, 68% lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất chế tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng, 22% làm công việc giúp việc gia đình và điều dưỡng hộ lý (chủ yếu tại Đài Loan), 8% thuộc nhóm nông nghiệp - ngư nghiệp, và dưới 2% là lao động kỹ thuật cao.

Chi phí xuất cảnh ảnh hưởng thế nào đến tỷ lệ lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp? Do phải chi trả chi phí ban đầu từ 3.000 đến 5.000 USD qua nhiều khâu trung gian, người lao động chịu áp lực trả nợ rất lớn. Khi gần hết hạn hợp đồng 3 năm, họ có xu hướng trốn ra ngoài làm việc tự do để kiếm mức thu nhập cao hơn nhằm tích lũy thêm tài chính.

Giải pháp hậu xuất khẩu lao động mang lại lợi ích gì cho nền kinh tế? Giải pháp này giúp tận dụng nguồn vốn con người đã được tôi luyện tay nghề, kỷ luật và ngoại ngữ sau 3 đến 5 năm ở nước ngoài. Việc giới thiệu họ vào làm việc tại các doanh nghiệp FDI Đông Bắc Á ở Việt Nam giúp gia tăng năng suất xã hội và ngăn chặn tâm lý cư trú bất hợp pháp.

Kết luận

  • Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân công lao động quốc tế và đánh giá toàn diện bức tranh xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đông Bắc Á giai đoạn 2005 – 2013.
  • Khẳng định thị trường Đông Bắc Á là đối tác tiếp nhận chiến lược, đóng góp trên 80% thị phần lao động phái cử và tạo nguồn kiều hối hàng tỷ USD cho đất nước.
  • Nhận diện trực diện các điểm nghẽn nghiêm trọng, đặc biệt là tỷ lệ lao động cư trú bất hợp pháp vượt ngưỡng 40% tại một số thời điểm, dẫn đến nguy cơ mất thị phần.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ 4 nhóm đối tượng: Nhà nước hoàn thiện thể chế và kiểm soát chi phí; Doanh nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo trên 400 giờ; Người lao động nâng cao kỷ luật; và thiết lập mạng lưới Hậu xuất khẩu lao động.
  • Hướng tới mục tiêu hạ tỷ lệ lao động vi phạm hợp đồng xuống dưới 10%, nâng tỷ trọng lao động kỹ thuật lên 30% trong các giai đoạn tiếp theo nhằm nâng cao vị thế và thương hiệu lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.