Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Xây dựng và sử dụng Ebook chương “ Dòng điện xoay chiều”- Vật lí 12. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN V THỰC TIỄN CỦA ĐỀ T I 1.
Lịch sử ngiên cứu của ề tài Ý tưởng số hóa sách in thành sách điện tử (Ebook) được xuất hiện đầu tiên vào năm 1971 trong dự án của Gutenberg do Michael Hartbắt đầu năm 1971. Ebook là từ viết tắt của electronic book ( sách điện tử), có thể dùng các công cụ máy tính để xem. Ebook có những lợi thế mà sách in thông thường không có được: rất gọn nhẹ, có thể tinh chỉnh về cỡ chữ, màu sắc, và các thao tác cá nhân hóa tùy theo sở thích của người đọc. Ebook có khả năng tích hợp văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, phim thí nghiệm, video,…, trong đó có tương tác giữa người học và máy thông qua hệ thống câu hỏi.
Sách được chép trên một đĩa CD- ROM hoặc chép và cài thẳng vào máy tính. [25] Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và truyền thông (Information and Communication Technology - ICT) trong những năm gần đây đã tác động và làm thay đổi rất lớn đến giáo dục. ICT đã mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và mạng internet, học tập trực tuyến (E-learning), học tập bằng sách điện tử (Ebook) đã và đang thu hút được đông đảo người học và dần trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tự học của mỗi người học.
So với sách in Ebook có nhiều ưu điểm vượt trội: thông tin mà Ebook đưa đến người đọc không chỉ ở dạng văn bản (text) mà còn có các ứng dụng đa truyền thông như hình ảnh, video, hiệu ứng hoạt hình… Ebook rất gọn nhẹ, có khả năng lưu trữ hệ thống thông tin đồ sộ, có thể sử dụng mọi lúc, mọi nơi, tạo được tương tác giữa người học và máy, có tính tái sử dụng rất cao.[18] Về các tài liệu hướng dẫn tự họcđã có các luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của các tác giả sau: Đoàn Thu Huyền, “Thiết kế sách điện tử (Ebook) chương “Dao động cơ” – Vật lí 12 nâng cao” [4]; Phạm Thị Nụ, Thiết kế sách điện tử (Ebook) chương “Động lực học chất điểm”- Vật lí 10 [14]; “Trần Thanh Hiếu, Thiết kế Ebook chương “ Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12” [17]; Dương Hương Ly, „Thiết kế Ebook hỗ trợ dạy học chương “ Dòng điện trong các môi trường” – Vật lí 11 THPT nâng cao theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh” [5]… 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những Ebook trên qua phần thực nghiệm sư phạm đã chứng tỏ tính khả thi, hiệu quả nâng cao chất lượng dạy học vật lí, góp phần đổi mới PPDH, hỗ trợ hoạt động tự học của HS. Tuy nhiên hiện chưa có luận văn về Ebook chương “Dòng điện xoay chiều”-Vật lí 12 thiết kế theo hướng hỗ trợ hoạt động tự học của HS. Cơ sở lý luận về hoạt ộng tự học của HS 1. Quan niệm về tự học Khái niệm tự học (Self-Directed Learning - SDL) là một vấn đề mà các nhà giáo dục nghiên cứu và tranh luận sôi nổi trong nhiều năm.
Tự học bắt nguồn từ giáo dục cho người trưởng thành, là một giải pháp thực hiện bởi học viên người lớn ở tiểu học và trung học. Hiện nay việc định nghĩa tự học đã có nhiều thay đổi, nhưng tựu chung có một số quan điểm sau: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học. Người cho rằng: “ Tự học tự động” và “ phải biết tự động học tập”, tức là học tập mợt cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch chủ động cho mình rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đào tạo, GS.
TS Nguyễn Cảnh Toàn – một tấm gương lớn về tự học mà dẫn tới thành công cho rằng: “ Tự học- là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ ) cùng các sản phản của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có trí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, long say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. [7] Còn theo cố GS. Nguyễn Văn Đạo (đại học Quốc gia Hà Nội) đã có một vài suy nghĩ chung về vấn đề tự học: “ Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người. Số thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của thầy là rất ít, chỉ chiếm khoảng 1/4 của một đời người.
Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động sang tạo. Ngay cả trong giai đoạn đi học, việc tự học luôn luôn có vai trò 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan trọng. Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những người có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này”. [10] Theo Nguyễn Kỳ (Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học) thì tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học mọi người.
Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp. Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học .[9] Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế , GS. Trần Phương cho rằng : “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”. Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra một quan niệm riêng của mình về tự học, nhưng tất cả đều có chung quan điểm: Tự học là hoạt động của bản thân người học tự chiếm lĩnh các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, chủ động và tích cực.
Như vậy, có thể nói là con người ai cũng phải học, khi nói đến học thì đương nhiên là nói đến sự tự học, chính là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập của từng cá nhân. Chính hoạt động tự học tạo cơ hội cho người học phát huy được trí tuệ, tư duy đồng thời giúp có lòng ham học. Kết quả tự học cao hay thấp còn phụ thuộc vào năng lực của mỗi cá nhân, khả năng tự học tiềm ẩn bên trong mooix con người. Vai trò của tự học [10] Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học.
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa và vai trò của phương pháp tự học. Trong quá trình dạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn mà quan trọng hơn là phải định hướng , tổ chức cho HS tự mình học thu thấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề học tập. Giúp HS không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy, tự bổ sung, đào sâu, hệ thống hóa, khái quát hóa những điều đã được học. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng được coi trọng, nói đến phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tự học.
Bởi vì HS phổ thông sau này còn có thể học cao hơn, cần tạo cho HS có thới quen tự nghiên cứu khoa học, không ngừng nâng cao hiểu biết để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.Thì tự học được xem là “chìa khóa vàng” giúp con người có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà khoa học và cuộc sống đặt ra. Tự học khắc phục nghịch lý: Học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thí có hạn. Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho HS. Vì vậy tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức khổng lồ và quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường.
Ngoài ra, tự học còn giúp người học rèn luyện tính độc lập, rèn luyện trí nhớ và tư duy. Chính vì vậy, nên ngay trong các điều: 4, 24, 36 của Luật giáo dục qui định rất rõ: "Tự học là một vấn đề quan trọng trong phương pháp giáo dục của các bậc học, các ngành học". Và điều 46 ghi rõ: “Việc học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội”. Giáo dục-đào tạo theo hướng phát triển tự học sẽ tạo ra được 35 những con người năng động, sáng tạo, có khả năng công tác và có thể đưa ra nhiều ý tưởng phát triển tốt cho mỗi ngành nghề góp phần vào sự phát triển của xã hội.
[15] Với những lý do nêu trên có thể nhận thấy: Nếu xây dựng được phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý trí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng ẩn trong mỗi cá nhân người học, tạo ra động lực to lớn cho người học. Các hình thức tự học [18] Tự học là hoạt động của bản thân người học tự chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác, chủ động, tự lực và tích cực.