mở đầu nghiên cứu tài liệu mới, giúp học sinh nắm vững bản chất vật lí của các hiện tượng, tạo sự say mê, hứng thú học tập cho học sinh. - Bài tập định lượng Là loại bài tập tính toán có dữ liệu là các số cụ thể, học sinh phải giải chúng bằng các phép toán, sử dụng công thức để xác lập mối quan hệ phụ thuộc định lượng giữa các đại lượng phải tìm và nhận được kết quả dưới dạng một công thức hoặc một giá trị bằng số. Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản trong đó chỉ đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản. Những bài tập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa của các định luật và các công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị vật lý và thói quen cần thiết để giải những bài tập phức tạp hơn.
Bài tập tính toán tổng hợp là loại bài tập mà muốn giải được nó thì yêu cầu ta phải sử dụng nhiều khái niệm, định luật, công thức. Bài tập loại này giúp học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy được mối quan hệ giữa các thành phần của chương trình, biết phân tích và lựa chọn kiến thức đã học để giải quyết vấn đề do bài tập đặt ra. - Bài tập thí nghiệm Là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm ra những số liệu cần thiết cho bài tập. Bài tập thí nghiệm có tác dụng tốt về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn.
- Bài tập đồ thị Là loại bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải bài tập phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị. - Bài tập trắc nghiệm khách quan 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Là bài tập thường được dùng để kiểm tra kiến thức trong một phạm vi rộng, số lượng người được kiểm tra nhiều, kết quả thu được khách quan không phụ thuộc vào người chấm. Bài tập dạng này yêu cầu học sinh phải nhớ, hiểu và vận dụng đồng thời rất nhiều các kiến thức liên quan. Phân loại bài tập vật lý theo yêu cầu luyện tập kỹ năng, phát triển tư duy trong quá trình dạy học - Bài tập luyện tập Là loại bài tập dùng để củng cố kiến thức lý thuyết cơ bản đã học, hoặc sau khi học xong một kiến thức vật lý mới, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các khái niệm, định luật vật lí mới nghiên cứu, nắm vững cách giải đối với một loại bài tập nhất định đã được chỉ dẫn cách thức giải.
- Bài tập sáng tạo Là loại bài tập phát triển tư duy sáng tạo của học sinh. Có thể chia bài tập sáng tạo thành hai loại: Bài tập nghiên cứu: Là loại bài tập cần giải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở mô hình trừu tượng thích hợp rút ra từ lí thuyết vật lí. Bài tập thiết kế: Là loại bài tập vận dụng các kiến thức lí thuyết đã biết để đưa ra mô hình phù hợp với mô hình trừu tượng đã cho. Lựa chọn bài tập vật lí 1.
Căn cứ để lựa chọn bài tập vật lí - Mục đích sử dụng - Trình độ xuất phát của học sinh - Thời gian cho phép sử dụng 1. Số lượng và nội dung bài tập được lựa chọn cần đáp ứng những yêu cầu - Phù hợp với mức độ nội dung các kiến thức cơ bản và các kỹ năng giải bài tập. - Hệ thống bài tập bao gồm nhiều thể loại. - Chú ý thích đáng về số lượng và nội dung các bài tập nhằm giúp học sinh vượt qua những khó khăn chủ yếu, khắc phục những sai lầm phổ biến.
- Các bài tập đưa ra phải có tính hệ thống. - Các bài tập phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh đại trà, đồng thời có chú ý đến sự phân hóa học sinh. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hướng dẫn hoạt động giải bài tập vật lí 1.
Phương pháp giải bài tập vật lí Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập vật lí một cách khoa học, đảm bảo đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết. Nó không những giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng suy luận lôgic, làm việc một cách khoa học, có kế hoạch. Bài tập vật lí rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong phú. Tuy nhiên, có thể vạch ra một dàn bài chung gồm những bước chính sau: [13, 347] Bước 1: Tìm hiểu đề bài - Đọc đầu bài, ghi tóm tắt những dữ kiện đã cho, những dữ kiện phải tìm của bài toán bằng những kí hiệu vật lí.
- Đổi đơn vị về hệ đơn vị hợp pháp. - Mô tả lại hiện tượng vật lí được nêu trong bài, vẽ hình minh họa (nếu cần thiết). Bước 2: Phân tích hiện tượng Trước hết là nhận biết những dữ kiện cho trong đầu bài có liên quan đến những khái niệm nào, hiện tượng nào, quy tắc nào, định luật nào trong vật lí. Xác định các giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đầu bài, mỗi giai đoạn bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào.
Cần phải hình dung toàn bộ diễn biến của hiện tượng và các định luật chi phối nó trước khi xây dựng bài giải cụ thể. Có như vậy mới hiểu rõ được bản chất của hiện tượng, tránh được sự mò mẫm, máy móc áp dụng các công thức. Bước 3: Xây dựng lập luận Thực chất của bước này là tìm quan hệ giữa ẩn số phải tìm với các dữ kiện đã cho. Đối với những bài tập tổng hợp phức tạp, có hai phương pháp xây dựng lập luận để giải: phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp.
Theo phương pháp phân tích thì xuất phát từ ẩn số của bài tập, tìm ra mối quan hệ giữa ẩn số đó với một đại lượng nào đó theo một định luật đã xác định ở bước số 2, diễn đạt bằng một công thức có chứa ẩn số. Sau đó, tiếp tục phát triển lập luận hoặc biến đổi công thức này theo các dữ kiện đã cho. Cuối cùng, tìm được một công thức chỉ chứa mối quan hệ giữa ẩn số với các dữ kiện đã cho. Theo phương pháp tổng hợp thì trình tự làm ngược lại: điểm xuất phát không phải từ ẩn số mà từ những dữ kiện của đầu bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi các 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công thức diễn đạt mối quan hệ giữa các dữ kiện đã cho với các đại lượng khác để tiến dần đến công thức cuối cùng có chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho.
Cả hai phương pháp đều có giá trị, nhiều khi chúng bổ sung cho nhau. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của quá trình vận dụng kiến thức để giải bài tập thì phương pháp phân tích dễ thực hiện hơn đối với học sinh vì mục tiêu của lập luận rõ ràng hơn. Bước 4: Biện luận Đây là khâu cuối cùng để hoàn thiện việc giải một bài tập, giúp người học có thể phát hiện những sai sót mắc phải khi giải. Trong bước này ta phải phân tích kết quả cuối cùng để loại bỏ những kết quả không phù hợp với điều kiện đầu bài hoặc không phù hợp với thực tế.
Sau khi tìm được kết quả cần rút ra một số nhận xét về: - Giá trị thực của kết quả; - Phương pháp giải; - Khả năng mở rộng bài tập; - Khả năng ứng dụng của bài tập. Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí a. Những công việc cần làm để hướng dẫn học sinh giải một bài toán vật lí cụ thể - Giải bài toán đó theo phương pháp giải một bài tập vật lí một cách tỉ mỉ. Tìm các cách giải bài toán đó (nếu có).
- Xác định mục đích sử dụng bài toán này. - Xác định những kiến thức áp dụng để giải bài toán. - Phát hiện được những khó khăn mà học sinh có thể gặp khi giải bài toán. - Soạn câu hỏi hướng dẫn học sinh vượt qua khó khăn.
Các kiểu hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí * Hướng dẫn theo mẫu (Hướng dẫn angôrit) Sự hướng dẫn hành động theo một mẫu đã có thường được gọi là hướng dẫn angôrit. Ở đây thuật ngữ angôrit được dùng với nghĩa là một qui tắc hành động được xác định một cách rõ ràng, chính xác và chặt chẽ, trong đó chỉ cần chỉ rõ thực hiện những hành động nào và theo trình tự nào để đi đến kết quả [16]. Là sự hướng dẫn chỉ rõ cho học sinh những hành động cụ thể cần thực hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt được kết quả mong muốn. Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi giáo viên phải xây dựng được một angôrit giải, phải phân tích một cách 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoa học việc giải bài tập và đảm bảo cho các hành động được thực hiện là những hành động sơ cấp đối với học sinh và họ phải nắm được các hành động này.
Kiểu hướng dẫn angôrit thường được sử dụng khi cần hình thành các kỹ năng hẹp hoặc khi cần dạy cho học sinh phương pháp giải một bài tập điển hình nào đó. Điều này cần thiết ở giai đoạn đầu khi giải một loại bài tập mới mà học sinh chưa thể xác định được một cách rành mạch các bước hành động Ưu điểm của hướng dẫn angôrit là đảm bảo cho học sinh giải được bài tập đã được giao một cách chắc chắn, giúp cho việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập của học sinh ở giai đoạn đầu có hiệu quả. Tuy nhiên, do việc hướng dẫn học sinh chỉ quen chấp hành những hành động đã được chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn nên tác dụng rèn khả năng tìm tòi sáng tạo của học sinh bị hạn chế. Việc truyền đạt cho học sinh angôrit giải một loại bài tập xác định có thể theo những cách khác nhau: Chỉ dẫn cho học sinh angôrit có sẵn trước khi cho học sinh tiến hành giải bài tập hoặc cho học sinh giải một bài tập mẫu, sau đó mới cho học sinh xác định angôrit giải loại bài tập đó.
Đối với những học sinh yếu, giáo viên cần đưa ra những bài tập nhỏ đảm bảo học sinh thực hiện được những chỉ dẫn riêng lẻ trong angôrit giải lớn hơn.