Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng ban trong trường đại học Chương 2: Khảo nghiệm bộ tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng ban ở trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp. Chương 3: Đánh giá thử nghiệm bộ tiêu chí năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng ban ở trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG BAN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Khái niệm Năng lực Có rất nhiều khái niệm về năng lực và được dùng nhiều ở nhiều ngành khoa học khác nhau trong đó có khoa học giáo dục.
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà giáo dục Việt Nam đang chuyển dần từ giáo dục kiến thức truyền thống sang giáo dục tiếp cận năng lực người học thì định nghĩa về năng lực càng thu hút các nhà nghiên cứu giáo dục. Năng lực theo cách hiểu thông thường chính là “khả năng vận dụng những kiến thức, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống phong phú của đời sống” – Quesbec-Ministere de I’Educaton, 2004. Theo Glenn Mary Jo Blahna (2005), năng lực được xây dựng gồm 03 thành tố cấu thành: Kiến thức, kỹ năng và thái độ [25]. Trong Từ điển Tiếng Việt năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Như vậy, năng lực là cái tự nhiên sẵn có trong mỗi con người để thực hiện được một hay nhiều hoạt động đạt hiệu quả cao [15]. Trong Bách khoa toàn thư Việt Nam thì Năng lực là “đặc điểm cá nhân thể hiện độ thông thạo, sự thành thục, chắc chắn một hay một số hoạt động nào đó. Năng lực gắn với phẩm chất, trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ cá nhân.
Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu song không phải là bẩm sinh mà là kết quả của phát triển xã hội”[15]. Theo Tâm lý học thì năng lực là khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ để giải quyết hiệu quả tình huống hoặc một hoạt động thực tiễn xác 16 z định. Như vậy, năng lực cũng có thể giúp con người thành công trong một hoạt động cụ thể, cũng có thể thành công trong một lĩnh vực hoạt động rộng hơn. Cũng theo quan điểm tâm lý, tác giả Vũ Dũng coi năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của mỗi cá nhân và năng lực phải đi kèm với hiệu suất và kết quả cao trong công việc: Năng lực là “tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.
Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoạt động khách quan và chủ quan như nhau”[9]. Theo dự án SREM do tác giả Nguyễn Thị Thái (Chủ biên) thì năng lực được định nghĩa: “Năng lực là sự tổng hợp giữa kiến thức và kỹ năng cộng thêm với khả năng và quyết tâm được áp vào những trường hợp cụ thể” [11]., & Walker cho rằng: Năng lực được hiểu là sự kết hợp của những thuộc tính (kiến thức, kỹ năng, thái độ) cho phép một cá nhân hay một nhóm người thực hiện được vai trò hay nhiệm vụ của mình, đạt yêu cầu chất lượng (đạt chuẩn thích hợp) trong một điều kiện hoàn cảnh nhất định[25]. Theo các tác giả này, năng lực là một phạm trù rất rộng nó bao gồm cả kiến thức, kĩ năng, thái độ của mỗi cá nhân. Các yếu tố này cùng kết hợp với nhau để giúp cho một cá nhân hay một nhóm người hoàn thành nhiệm vụ ở những mức độ nhất định, từ đó có thể đánh giá năng lực của mỗi cá nhân hay mỗi nhóm người ở các mức độ khác nhau.
Nghiên cứu của McClelland (1973) mô tả “năng lực như là một đặc tính cơ bản để thực hiện công việc”. Boyatzis (1982) quan niệm rằng “năng lực như là các đặc tính của một cá nhân có liên quan đến việc thực hiện công việc đạt hiệu quả cao”. 17 z Kỹ năng Năng lực Phẩm chất Kiến thức Mô hình 1.1 Mô hình năng lực cá nhân Để phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn đưa ra và sử dụng thống nhất khái niệm về năng lực như sau: Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đã tích lũy được để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng. Đó là sự tổng hoà của kiến thức, kỹ năng, động cơ, nét tiêu biểu, cách suy nghĩ, những mong muốn đạt đến mục tiêu của mỗi người khi thực hiện một hoạt động và nhiệm vụ cụ thể nào đó.2 Khung năng lực Khung năng lực là một tập hợp các năng lực hướng đến việc hoàn thành nhiệm vụ cho một công việc cụ thể.
Khung năng lực có thể được xây dựng cho một công việc, các nhóm công việc, tổ chức, ngành nghề hoặc các ngành, lĩnh vực. Khung năng lực là bảng mô tả tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ và đặc điểm của một cá nhân để hoàn thành tốt công việc. Đây là một trong những công cụ quản lí khoa học, định hướng những tố chất, năng lực cần có đối với một cá nhân khi đảm nhiệm một ví trí công việc nhất định. 18 z Khung năng lực của nhà quản lí giáo dục là tập hợp hệ thống các nhóm năng lực để thực hiện vai trò nhiệm vụ của nhà quản lí.
Khung năng lực vừa là phương thức kiểm soát, vừa là công cụ quản lí. Cấu trúc năng lực Để đánh giá năng lực, cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Việc mô tả cấu trúc năng lực cũng tùy vào loại năng lực khác nhau. Tuy nhiên cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau [48]: Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn trong đó bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp, trìu tượng hóa, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình.
Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp. Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Năng lực cá thể (Individual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi. Mô hình cấu trúc năng lực trình bày ở trên có thể cụ thể hóa trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp, năng lực cũng được mô tả khác nhau. Ví dụ như năng lực của giáo viên bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy, năng lực giáo dục, năng lực chuẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
19 z Từ mô hình cấu trúc nói trên cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm phát triển năng lực chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá nhân. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ nhau. Để đánh giá năng lực của đội ngũ cũng cần căn cứ toàn diện các năng lực này trong môi trường giáo dục cụ thể. Phân loại năng lực Việc phân loại năng lực có nhiều quan điểm và cách chia khác nhau Theo De Ketele, có 2 loại năng lực đối với học sinh [48]: Năng lực cơ bản: Là năng lực học sinh rất khoát phải làm chủ để bước vào quá trình học tập mới một cách thuận lợi.
Năng lực đề cao: Là những năng lực trong hoàn cảnh và ở thời điểm đào tạo cho trước không phải là tối cần thiết cho quá trình học tập tiếp theo, có nghĩa là nếu không làm chủ các năng lực này thì cũng không ảnh hướng đến quá trình học tập trong năm học đó hoặc ở bậc học cao hơn. Ở các nước OECD, trong chương trình dạy học năng lực được chia thành hai nhóm chính: Năng lực chung và năng lực riêng (năng lực chuyên biệt). Hai loại năng lực chung và năng lực riêng luôn bổ sung và hỗ trợ nhau. Năng lực chung là năng lực có phạm vi rộng, tạo tiền đề và là cơ sở cần thiết trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Nhóm năng lực chung bao gồm: Khả năng hành động độc lập; sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ; khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất. Năng lực riêng (năng lực chuyên biệt): là sự kết hợp độc đáo các thuộc tính chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên môn và là điều kiện cho hoạt động này đạt kết quả tốt. Khái niệm Quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [27]. Trong thực tiễn, đã có nhiều cách hiểu và biểu đạt về khái niệm quản lý, tuỳ theo mục đích tiếp cận khác nhau của mỗi tác giả.
20 z - Frederich Wiliam Taylor (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất ”; còn theo Paul Hersey và Ken Blanc Hard: “Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức” [27].