Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Quan niệm về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp Khái niệm về M&A hiện đang được định nghĩa theo các tiêu chí khác nhau (trong các tài liệu như Mergers, Consolidation, Acquitions, Leverged Buyouts, Takeovers (friendly/hostile), Management Buyouts, Share-Due, Asset-Due.), nhưng đều có nội dung về quan hệ sáp nhập, hợp nhất hoặc thâu tóm giữa các doanh nghiệp với mong muốn tìm kiếm, mở rộng thị trường, nâng cao quy mô doanh nghiệp. M&A cũng góp phần "làm sạch" thị trường đối với những doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản, hoặc những doanh nghiệp cần phải được đầu tư về vốn, quản trị, công nghệ.
từ các doanh nghiệp khác. Hơn nữa, cũng như quy luật của sự phát triển, các doanh nghiệp không chỉ chọn giải pháp phát triển "tự sinh" thông qua việc tự thành lập các doanh nghiệp trực thuộc, mà còn thông qua các biện pháp phát triển "ngoại sinh" với việc sáp nhập, thâu tóm doanh nghiệp khác. M&A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh Mergers and Acquisitions) có nghĩa là mua bán và sáp nhập. M&A thể hiện hoạt động của hai doanh nghiệp kết hợp lại với nhau nhằm đạt được những mục tiêu đã được xác định trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
M&A là một trong các hình thức đầu tư có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với trực tiếp hai doanh nghiệp, mà còn đối với các đối tượng khác như người quản lý, người lao động, đối thủ cạnh tranh của các bên, thậm chí cả đối với cộng đồng và nền kinh tế của mỗi 14 quốc gia. Trên thực tế, hoạt động M&A xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ XX, là hoạt động không còn xa lạ ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Dưới góc độ kinh tế, M&A được định nghĩa như sau: Mergers (sáp nhập) xảy ra khi hai công ty, thường là các công ty có cùng quy mô, đồng ý tiến tới thành lập một công ty mới mà không duy trì sở hữu và hoạt động của các công ty thành phần. Chứng khoán của các công ty thành phần sẽ bị xóa bỏ và công ty mới sẽ phát hành chứng khoán thay thế.
Các công ty bị sáp nhập sẽ chấm dứt hoạt động, công ty mới được thành lập và phát hành chứng khoán thay thế. Acquisitions (mua lại) là hoạt động thông qua đó, các công ty tìm kiếm lợi nhuận kinh tế nhờ quy mô, hiệu quả và khả năng chiếm lĩnh thị trường. Khác với sáp nhập, các công ty thâu tóm sẽ mua công ty mục tiêu, không có sự thay đổi về chứng khoán hoặc sự hợp nhất thành công ty mới. Dưới góc độ pháp lý, công ty mục tiêu bị chấm dứt tồn tại và công ty mua sẽ nuốt chửng hoạt động kinh doanh của công ty mục tiêu và chứng khoán của công ty mua vẫn tiếp tục được giao dịch.
Công ty mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt động và chứng khoán của công ty thâu tóm vẫn được giao dịch bình thường [39]. Theo định nghĩa kỹ thuật của David L.Scott, viết trong cuốn Wall Street Words: An A to Z Guide to Investment Term for Today’s Investor thì: Sáp nhập: là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty, trong đó có tài sản và trách nhiệm pháp lý của (những) công ty được công ty khác tiếp nhận. Mặc dù công ty mua lại có thể làm một tổ chức khác đi rất nhiều sau quá trình mua lại, nhưng nó vẫn là thực thể ban đầu. Mua lại: là quá trình mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hay thậm chí là toàn bộ công ty.
15 Từ định nghĩa trên có thể thấy mặc dù có nhiều điểm tương đồng, nhưng Mergers and Acquisitions có những điểm khác nhau có thể phân biệt được. Khi một công ty mua lại (tiếp quản) một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua bán. Công ty bị mua lại sẽ chấm dứt tồn tại, trong khi cổ phiếu của công ty mua lại vẫn tiếp tục giao dịch bình thường. Trên thực tế, không phải bất cứ lúc nào một thương vụ mua lại cũng sẽ chấm dứt sự tồn tại của công ty mục tiêu, trường hợp này chỉ xảy ra khi công ty đi mua mua lại toàn bộ tài sản của công ty mục tiêu (được gọi là hình thức buy-out), phần lớn những thương vụ mua lại là mua lại một phần tài sản hoặc vốn cổ phần của công ty mục tiêu, khi đó công ty mục tiêu vẫn hoạt động bình thường, chỉ có điều phần tài sản bị mua sẽ thuộc về công ty đi mua.
Trong trường hợp mua lại cổ phần thì công ty đi mua sẽ trở thành một cổ đông của công ty mục tiêu. Đối với sáp nhập, hiểu theo nghĩa hẹp, là giao dịch trong đó một hoặc một số doanh nghiệp từ bỏ pháp nhân của mình để gia nhập vào một doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập. Sau khi việc sáp nhập hoàn thành thì doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình.
Hiểu theo nghĩa rộng, sáp nhập doanh nghiệp bao gồm cả việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới; đồng thời, chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp trước sáp nhập. Sáp nhập theo nghĩa rộng, bao gồm cả hợp nhất. Trong trường hợp này thì cổ phiếu của hai công ty được thay thế bằng cổ phiếu của công ty mới. Vậy, có thể thấy, quan niệm phổ biến về M&A trên thế giới được hiểu bao gồm không chỉ sáp nhập, mua lại, mà bao gồm cả hợp nhất và giành quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, nếu phân tích về sáp nhập, hợp nhất thì đây không phải là hoạt động đầu tư theo nghĩa thông 16 thường, mà về bản chất đó là sự tối ưu hóa đầu tư. Chỉ mua lại, giành quyền kiểm soát mới thực sự là bỏ vốn để tiến hành hoạt động đầu tư. Tại Việt Nam, hiện tại chưa có một khung pháp lý hoàn chỉnh và thống nhất điều chỉnh hoạt động M&A. Theo đó, khái niệm về mua lại, sáp nhập được quy định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, chính việc này đã gây khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp muốn thực hiện hoạt động M&A.
Trên thực tế, quy định về M&A tồn tại trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh. Dưới đây là các quy định về M&A trong từng văn bản pháp luật cụ thể. Luật Doanh nghiệp Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, hoạt động mua bán và sáp nhập được xem là hình thức của hoạt động cơ cấu, tổ chức lại doanh nghiệp. Cụ thể, Điều 153 quy định: Sáp nhập doanh nghiệp là việc: Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập [19].
Khái niệm hai công ty cùng loại trong điều kiện trên được hiểu theo nghĩa là các công ty cùng loại hình doanh nghiệp. Ở đây công ty cùng loại theo quy định của pháp luật là cùng có loại hình giống nhau như cùng là Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên, hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần hoặc Công ty hợp danh. Như vậy, điều kiện tiên quyết để có một vụ sáp nhập là hai doanh nghiệp phải cùng loại hình và có sự chấm dứt hoạt động của một bên tham gia. Hiện nay, Luật Doanh nghiệp mới chỉ quy định về mua bán/mua lại doanh nghiệp tư nhân tại Điều 145 như sau: 17 1.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác. Chậm nhất mười lăm ngày trước ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người mua, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác [19]. Đối với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty TNHH, Công ty cổ phần, Luật Doanh nghiệp chỉ quy định về việc mua bán/chuyển nhượng phần vốn góp hoặc mua bán/chuyển nhượng cổ phần, cụ thể như sau: Đối với Công ty TNHH, việc mua bán/chuyển nhượng phần vốn góp được quy định tại Điều 44.
Theo đó: Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây: 1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; 2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán [19]. Đối với Công ty cổ phần, việc mua bán/chuyển nhượng phần cổ phần được quy định tai Điều 87.
Theo đó, điều khoản này quy định như sau: 1. Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán. Giá chào bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm 18 chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ những trường hợp sau đây:. Trường hợp công ty phát hành thêm cổ phần phổ thông và chào bán số cổ phần đó cho tất cả cổ đông phổ thông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty thì phải thực hiện theo quy định sau đây: … 5.
Các cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng văn bản theo cách thông thường hoặc bằng cách trao tay cổ phiếu. Giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký.