Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Đề xuất hệ thống ngữ liệu dạy đọc cho HS lớp 1 theo định hướng phát triển năng lực. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề chung về ngữ liệu và sử dụng ngữ liệu trong dạy học tiếng Việt 1. Ngữ liệu và ngữ liệu dạy học Nhìn chung, khái niệm “ngữ liệu” đƣợc hiểu tƣơng đối thống nhất giữa những ngƣời sử dụng.
Tuy vậy, ở mỗi góc nhìn khác nhau cách hiểu ngữ liệu vẫn có thể nảy sinh những nét khác nhau nhất định. Với ngƣời đọc thông thƣờng, “ngữ liệu” là một từ Hán – Việt, trong đó “ngữ” là ngôn ngữ, còn “liệu” là tài liệu, tƣ liệu. Vậy “ngữ liệu” chính là những tài liệu bằng ngôn ngữ. Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, tr.695), ngữ liệu là “tƣ liệu ngôn ngữ đƣợc dùng làm căn cứ để nghiên cứu ngôn ngữ” (thuộc mục “ngữ liệu” là danh từ).
Trƣờng hợp khác, ít dùng hơn, ngữ liệu đƣợc hiểu là “mặt hình thức vật chất của ngôn ngữ, cần thiết cho sự tồn tại của một nội dung trừu tƣợng của ngôn ngữ” (Hoàng Phê chủ biên, tr. Nhƣ vậy, trong nghiên cứu ngôn ngữ - một lĩnh vực khoa học chuyên ngành, ngữ liệu không phải chỉ là những tài liệu bằng ngôn ngữ mà còn là những phƣơng tiện, những “hình thức vật chất của ngôn ngữ” đƣợc dùng làm tƣ liệu, làm mẫu để nghiên cứu, tìm hiểu và phát hiện ra những quy luật hoạt động của ngôn ngữ ở những cấp độ khác nhau, từ cấp độ ngữ âm đến cấp độ văn bản. Ngữ liệu là những cứ liệu cho hoạt động phân tích, tổng hợp, khám phá ra những chân lí ngôn ngữ học, những tri thức lí luận về ngôn ngữ, các khái niệm, quy tắc, quy luật, cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ. Trong dạy học, “ngữ liệu” đƣợc hiểu ở phạm vi hẹp hơn.
Đó là những thực tế ngôn ngữ, là sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ tồn tại dƣới dạng nói hoặc viết đƣợc dùng làm tài liệu ngôn ngữ để nghiên cứu, giảng dạy và học tập về ngôn ngữ. Ngữ liệu xuất hiện trong sách giáo khoa, trong giờ dạy học tiếng không chỉ với vai trò là những ví dụ minh hoạ đơn thuần mà còn trở 8 thành đối tƣợng cần nhận thức, cần tìm hiểu của học sinh. Trong dạy học tiếng Việt, ngữ liệu là các tài liệu ngôn ngữ cụ thể đƣợc sử dụng trong sách giáo khoa, các bài học về tiếng Việt hoặc đƣợc giáo viên đƣa ra trong bài dạy, đồng thời ngữ liệu cũng là đối tƣợng tìm hiểu, phân tích để nhận thức, phát hiện tri thức mới hoặc củng cố kiến thức và phát triển kĩ năng của học sinh trong giờ học tiếng Việt. Ngữ liệu mang lại hình ảnh trực quan về thực tế ngôn ngữ, mang lại hình thức có tính vật chất đầu tiên của quá trình nhận thức các khái niệm, quy tắc ngôn ngữ.
Vì vậy, trong thực tế dạy học, khái niệm “ngữ liệu” đƣợc thay thế bằng khái niệm “mẫu”. “Mẫu trong dạy học tiếng Việt đƣợc hiểu là những ngữ liệu điển hình (từ, câu, đoạn văn) đƣợc trích chủ yếu từ các văn bản học sinh vừa học ở phân môn văn học” (Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán – Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2001, tr.189) VD: Khi dạy vần /ăn/ Tiếng Việt tập 2 - CGD Ở nhà trẻ Giờ ăn, bé Ngát bê bát tự ăn. Giờ ngủ, bé lăn ra sàn, gió mát ru bé ngủ. Bé ăn khỏe, ngủ khỏe.
Bạn bè quý bé, chả hề phàn nàn gì. VD: Khi dạy Phân biệt âm đầu gi/d/v Tiếng Việt tập 3 - CGD - Em phân biệt âm đầu gi/d/v Mẫu: vì/ dì/ gì Em phân biệt: Vì còn bé,…… Dì còn bé,… Gì còn bé? Em phân biệt: Vì sao không đi? Dì sao không đi? 1. Vai trò của ngữ liệu trong dạy học tiếng Việt Đối với việc dạy tiếng trong nhà trƣờng, ngữ liệu có vai trò quan trọng, là cái không thể thiếu đƣợc để triển khai một giờ học, bài học về tiếng, đƣợc GV đƣa ra để cùng HS tìm hiểu, cải biến, vận dụng nhằm hình thành các kiến 9 thức, kĩ năng ngôn ngữ cho HS. Xét dƣới góc độ nhận thức luận, ngữ liệu chính là đối tƣợng mang “tính trực quan”, là bƣớc khởi đầu cho quá trình nhận thức chân lí “từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng.
Nhƣ vậy, ngữ liệu với vai trò là một đối tƣợng “trực quan sinh động” đã đóng một vị trí then chốt trên con đƣờng nhận thức lí luận ngôn ngữ. Không có ngữ liệu, việc nắm bắt những vấn đề mang tính trừu tƣợng trở nên khó khăn hơn, đặc biệt đối với HS phổ thông. Cho nên, sử dụng ngữ liệu trong việc dạy học tiếng Việt ở nhà trƣờng phổ thông không phải chỉ là cần thiết mà còn là bắt buộc. Không có ngữ liệu, GV không thể tiến hành việc dạy học tiếng.
Xét dƣới góc độ lí luận dạy học, tính trực quan trong những giờ lên lớp đối với HS phổ thông là hết sức cần thiết. Việc sử dụng các phƣơng tiện dạy học mang tính cụ thể này sẽ giúp nhận thức của các em vừa tƣờng minh, sinh động vừa sâu sắc. Có thể khẳng định, dùng ngữ liệu trong dạy học là một cách trực quan hoá nội dung dạy học. Chính ngữ liệu đã trở thành một phƣơng tiện trực quan không thể thiếu trong việc dạy tiếng.
Hơn nữa, ngữ liệu là một thực tế ngôn ngữ đã đƣợc sử dụng, nó cung cấp cho HS một hình mẫu về lời nói. HS quan sát, tìm hiểu ngữ liệu cũng chính là tiếp xúc với một mẫu về ngữ. Và tùy thuộc vào từng loại bài học tiếng, ngữ liệu sẽ phát huy những vai trò và đáp ứng những yêu cầu khác nhau. Trong giờ dạy học lí thuyết tiếng, ngữ liệu có vai trò định hƣớng cho HS nắm các khái niệm, qui tắc ngôn ngữ; là những mẫu ngôn ngữ điển hình để HS học tập trong hoạt động giao tiếp.
Trong giờ thực hành tiếng, ngữ liệu lại càng quan trọng hơn. Chúng chính là những mẫu hoạt động lời nói, điển hình cho một qui tắc ngôn ngữ nào đó vừa giúp HS củng cố, khắc sâu quy tắc ngôn ngữ đó vừa “bắt chƣớc”, thực hành theo để tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ cá nhân phù hợp với qui tắc chung đó. Xét dƣới góc độ cung cấp thông tin, chúng ta thấy ngữ liệu không phải chỉ cung cấp kiến thức thuần tuý về những vấn đề của ngôn ngữ. Lớn hơn và rộng hơn thế, ngữ liệu với nội dung thông tin ngữ nghĩa của nó còn giúp HS 10 có thêm rất nhiều những hiểu biết mới về xã hội, tự nhiên và con ngƣời.
Nó giúp các em vƣợt qua không gian, vƣợt qua thời gian để trở lại với quá khứ, để vƣơn tới tƣơng lai, để vƣợt giới hạn của một quốc gia đến với tất cả các quốc gia trên thế giới. Qua mỗi ngữ liệu đƣợc dẫn ra trong bài học tiếng, một mặt HS nắm đƣợc những qui luật, qui tắc vận hành ngôn ngữ; mặt khác, kèm với những nội dung thông tin ngôn ngữ kia lại là những hiểu biết mới mẻ về mọi mặt của đời sống. Những thông tin này là vô hạn trong ngữ liệu, càng khai thác, càng tìm hiểu càng thấy mới mẻ. Yêu cầu chung của việc xây dựng và sử dụng ngữ liệu trong dạy học tiếng Việt Hứng thú học tập của HS cũng nhƣ kết quả của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trƣờng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến vấn đề ngữ liệu.
Do vậy vấn đề lựa chọn và sử dụng ngữ liệu trong dạy học ngôn ngữ, dạy học tiếng Việt ở nhà trƣờng phổ thông cần đƣợc quan tâm đầy đủ và sâu sắc hơn. Hiện nay, tất cả các giáo trình và sách giáo khoa tiếng Việt đều đặt ra yêu cầu chung đối với việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu là phải chính xác, đầy đủ, ngắn gọn, có tần suất sử dụng cao và chứa đựng nhiều hiện tƣợng ngôn ngữ để HS tìm hiểu, phân tích. Xem xét một cách cụ thể vào các nội dung dạy học tiếng Việt trong chƣơng trình Ngữ văn THCS và THPT, chúng tôi khái quát năm yêu cầu cơ bản sau đây mà mỗi ngữ liệu dùng cho việc dạy học tiếng cần đạt đƣợc: 1. Ngữ liệu phải chứa đựng nội dung lí thuyết cần truyền đạt Ngữ liệu đƣợc dùng trong việc dạy học tiếng Việt khá phong phú và đa dạng.
GV có thể lấy ngữ liệu từ các văn bản trong SGK, nhƣng cũng có thể mƣợn từ các nguồn tƣ liệu khác hoặc tự mình xây dựng. Tuy vậy, điều cần lƣu ý là những ngữ liệu đƣợc lựa chọn phải chứa đựng những nội dung lí thuyết trong bài học. Trong giờ dạy học tiếng Việt, không ít GV đƣa ngữ liệu một cách vội vàng, thiếu sự cân nhắc tính toán nên ngữ liệu đƣa ra không có giá trị đối với việc cung cấp những nội dung lí thuyết về tiếng Việt cho HS. 11 Mặt khác, cũng cần nhận thức rõ, mức độ đậm nhạt của các vấn đề lí thuyết chứa đựng trong các ngữ liệu rất khác nhau.
Có ngữ liệu chỉ cần đƣa ra là HS có thể nhận ra ngay; cũng có những ngữ liệu mặc dù GV đã giảng giải nhƣng HS vẫn khó nhận biết. Vì thế, để có những ngữ liệu giá trị nhất phục vụ cho bài giảng, GV cần phải tìm tòi và đầu tƣ công sức cho việc lựa chọn ngữ liệu. Trong dạy học tiếng Việt, cùng một ngữ liệu mà chứa đựng đƣợc càng nhiều nội dung lí thuyết bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Chẳng hạn, khi dạy về “Hoán dụ”, nếu GV lựa chọn và cung cấp đƣợc cho HS những đoạn văn, đoạn thơ có nhiều hoán dụ; các hoán dụ đó đƣợc phân xuất thành nhiều loại khác nhau để HS dễ dàng phân tích, nhận diện thì ngữ liệu đó đạt đến mức lí tƣởng.
Ngữ liệu phải ngắn gọn Việc lựa chọn ngữ liệu dài hay ngắn, tùy thuộc vào nội dung bài học, tùy thuộc vào mục đích sử dụng của giáo viên. Tuy vậy, nhìn một cách chung nhất, ngữ liệu càng dài nghĩa là dung lƣợng càng lớn, càng khó sử dụng trên lớp. Sở dĩ nhƣ vậy vì với những ngữ liệu dài, việc cung cấp ngữ liệu cho HS tốn khá nhiều thời gian và theo đó việc tìm hiểu ngữ liệu nhiều khi cũng không thể tiến hành trên lớp. Hơn nữa, khả năng tri giác của HS phổ thông, đặc biệt là cấp tiểu học và THCS chƣa thật cao, nhiều khi thiếu và khá phân tán.
Vì thế, ngữ liệu dùng trong dạy học tiếng Việt nên ngắn gọn, súc tích, tƣờng minh.