MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Ngày nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp,và để phát triển các lĩnh vực khác thì trước hết là phải phát triển từ nông nghiệp. Nhưng để phát triển nông nghiệp một cách bền vững và toàn diện thì phải có những giải pháp phù hợp đưa ra. Trước tiên, chúng ta cần phải phát huy tối đa tiềm năng đối với một loại hình nông nghiệp hay một loại cây trồng khi phù hợp với một vùng nào đó khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện thích hợp để phát triển.
Mỗi vùng, mỗi khu vực, đặc trưng kinh tế nông nghiệp là không như nhau, nhiều nơi với sự phát triển sản xuất đặc trưng đã có thương hiệu không giống nhau, chắc hẳn trong chúng ta cũng đã từng nghe đến vải thiều Lục Ngạn- Bắc Giang, chè Tân Cương- Thái Nguyên, mận Bắc Hà- Lào Cai, vịt cỏ Vân Đình- Hà Nội, gạo nếp Tú Lệ- Yên Bái,… Nói đến Hàm Yên- Tuyên Quang, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ ngay đến một loại quả có tiếng trong vùng này, đó là cam sành. Hiện nay, Cam sành Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã là một thương hiệu nổi tiếng, không chỉ tiêu thụ trong thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra một số thị trường nước ngoài, đem lại nhiều hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường. Trong những năm qua, huyện Hàm Yên đã có nhiều giải pháp phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.
Đặc điểm sản xuất cam đã phát triển mạnh, phát huy được lợi thế so sánh, hình thành được sản phẩm mang thương hiệu “Cam sành Hàm Yên”, có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước. Tính riêng năm 2013, sản lượng cam ước đạt 34.4000 tấn quả, trị giá khoảng 344 tỷ đồng, góp phần xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu của nhiều hộ gia đình cá nhân với mức thu nhập trên 500 triệu đồng/hộ/năm. n 2 Hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường do cây cam mang lại đã được khẳng định. Đến thời điểm hiện nay diện tích trồng cam mới được tập trung chủ yếu ở một số khu vực trên địa bàn 15/18 xã.
Tuy nhiên có sự khác biệt về chất lượng, năng suất giữa các lô đất. Nguyên nhân chủ yếu là việc phát triển diện tích trồng cam hầu hết mang tính tự phát do người dân thực hiện theo kinh nghiệm mà chưa có một tài liệu khoa học hoàn thiện nào đánh giá đặc tính lý, hóa học của đất phù hợp với sinh trưởng, phát triển của cây cam. Để mở rộng quy mô trồng cam và phát triển loài cây đặc sản này, cùng với sự định hướng, hướng dẫn của Thầy giáo- Thạc sĩ Nguyễn Văn Hiểu, tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu đánh giá thích nghi đất đai phát triển cây Cam sành địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”. Mục đích nghiên cứu Xây dựng mô hiǹ h đánh giá thić h nghi đất đai trồng cây cam , trên cơ sở đó để người dân trong huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở rộng quy mô trồng cam sành, nâng cao hiệu quả về kinh tế.
Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát - Điều tra đánh giá chất lượng tài nguyên đất và các yếu tố về điều kiện địa lý, kinh tế- xã hội để xác định không gian, vị trí và diện tích đất phù hợp trồng cây cam sành trên địa bàn huyện Hàm Yên. - Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển vùng trồng cam bền vững và tạo ra sản phẩm cam chất lượng cao với thương hiệu “Cam sành Hàm Yên” có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước; mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
- Đánh giá thực trạng phát triển cây cam tại địa bàn nghiên cứu - Xây dựng được các tiêu chí thích nghi trồng cây cam sành huyện Hàm Yên. - Xác định được quy mô diện tích đất thích hợp với trồng cam theo các mức độ, phân bố theo xã và toàn huyện gắn với bản đồ thích nghi vùng phát triển cam. Yêu cầu của đề tài - Nắm được các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội để phát triển trồng cây cam trên huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. - Phân tích rõ ràng, cụ thể các yếu tố ảnh hưởng, cũng như các chỉ tiêu phù hợp cho việc phát triển.
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực. - Nắm chắc các kĩ năng GIS trong việc xây dựng bản đồ thích nghi. - Xây dựng cơ sở dữ liệu đánh giá thích nghi cây Cam Sành cho huyện Hàm Yên Tuyên Quang. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Việc nghiên cứu đề tài sẽ là cơ hội tốt cho sinh viên thực tập áp dụng những kiến thức đã học đi vào thực tế, để nâng cao trình độ hiểu biết chuyên môn.
Rèn luyện các kĩ năng cần thiết và hữu ích cho sau này khi ra trường. Là tài liệu tham khảo cho tất cả sinh viên, mọi người quan tâm. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Đề tài đánh giá, phân tích và đưa ra các điều kiện thích hợp cho việc mở rộng quy mô trồng cam trong huyện Hàm yên, tỉnh Tuyên Quang, giúp các địa phương trong huyện nhìn nhận và so sánh các điều kiện trong địa phương mình để có hướng trồng cây cam cho phù hợp, nâng cao hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi trường. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu - Phạm vi: Huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang - Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hàm Yên.
n 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về đất đai và đánh giá thích nghi đất đai 2. Khái niệm về đất đai, phân loại đất đai Theo Các Mác: “ Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”. [1] Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: “Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”.
Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm chung nhất mà chúng ta có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Căn cứ vào Luật đất đai năm 2013 thì đất đai được phân loại như sau: - Nhóm đất nông nghiệp; - Nhóm đất phi nông nghiệp; - Nhóm đất chưa sử dụng. Đánh giá thích nghi đất đai a. Khái niệm đánh giá thích nghi đất đai “Đánh giá khả năng thích nghi đất đai hay còn gọi là đánh giá thích nghi đất đai (Land Evaluation) là quá trình dự đoán tiềm năng đất đai khi sử dụng cho các mục đích cụ thể hay là dự đoán tác động của mỗi đơn vị đất đai đối với mỗi loại hình sử dụng đất”.
[5] Đánh giá thích nghi đất đai nhằm mục tiêu cung cấp các thông tin về sự thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai đối với từng loại hình sử dụng đất cụ thể, làm căn cứ để quản lý và sử dụng đất đai cho hợp lí. Theo FAO (Food Agriculture Organization - Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc) thì thích nghi đất đai có hai loại: thích nghi tự nhiên và thích nghi kinh tế- xã hội: n 5 - Đánh giá thích nghi tự nhiên: Chỉ ra mức độ thích hợp của loại hình sử dụng đất đối với điều kiện tự nhiên. Với các loại hình sử dụng đất đặc thù thì nếu không thích nghi về mặt tự nhiên, vẫn phải cân nhắc kĩ lưỡng trước khi đánh giá kinh tế để đề xuất phát triển… - Đánh giá thích nghi kinh tế- xã hội: Vấn đề sử dụng đất được cân nhắc về mặt kinh tế- xã hội của vùng đó, được đánh giá và so sánh cùng với các thích nghi về mặt tự nhiên. Tính thích nghi về mặt kinh tế - xã hội có thể được xác định bằng các yếu tố: sử dụng đất, tổng giá trị sản xuất, lãi ròng, tỉ suất chi phí/lợi nhuận….
Phân loại khả năng thích nghi đất đai. FAO (1976) đã xây dựng cấu trúc tổng quát của phân loại khả năng thích nghi đất đai gồm 4 cấp như sau: - Bộ (Orders): phản ánh các loại thích nghi. Trong bộ phân thành 2 mức: thích nghi (S) và không thích nghi (N). - Lớp (Classes): phản ánh mức độ thích nghi của bộ.
Những yếu tố này tạo ra sự khác biệt giữa các dạng thích nghi trong cùng một lớp. - Đơn vị (Units): phản ánh sự khác biệt về yêu cầu quản trị của các dạng thích nghi trong cùng một lớp phụ. Bộ thích nghi đất đai được phân làm 3 lớp: S1 (Rất thích nghi), S2 (thích nghi trung bình), S3 (ít thích nghi): S1 (Rất thích nghi – High suitable): Đất đai không có các hạn chế có ý nghĩa đối với việc thực hiện lâu dài một loại sử dụng đất được đề xuất, hoặc chỉ có những hạn chế nhỏ không làm giảm năng suất hoặc tăng đầu tư quá mức có thể chấp nhận được. S2 (Thích nghi trung bình - Moderately): Đất đai có những hạn chế mà cộng chung lại ở mức trung bình đối với việc thực hiện một loại hình sử dụng đất được đề ra.
Các giới hạn sẽ làm giảm năng suất hoặc lợi nhuận và làm gia tăng yêu cầu đầu tư. Ở mức này khả năng sản xuất vẫn là tốt mặc dù chất lượng của nó thấp hơn hạng S1. S3 (Ít thích nghi – Marginally Suitable): Đất đai có những giới hạn mà cộng chung lại là nghiêm trọng đối với một loại hình sử dụng đất được ra, tuy nhiên vẫn không phải hoàn toàn bỏ loại sử dụng đã định. Phí tổn thất cao nhưng vẫn có lãi.
n 6 Bộ không thích nghi đất đai được chia làm 2 lớp: N1 (không thích nghi hiện tại) và N2 (không thích nghi vĩnh viễn): N1 (Không thích nghi hiện tại – Currently Not Suitable): Đất đai không thích nghi với loại hình sử dụng đất nào đó trong điều kiện hiện tại. Những giới hạn đó có thể khắc phục được bằng những khoản đầu tư lớn trong tương lai.