Chương 1 – TỔNG QUAN Trình bày lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu nhằm thể hiện tính cấp bách của đề tài. Đồng thời trình bày các mục tiêu đạt được và đóng góp của đề tài trong thực tiễn, cũng như phương pháp nghiên cứu sơ lược cũng được đề cập. Chương 2 – LÝ THUYẾT VỀ NỢ CỦA DOANH NGHIỆP Thực hiện khảo lược lý thuyết về sử dụng nợ của doanh nghiệp, lý thuyết phân loại doanh nghiệp theo cấu trúc tài chính và các nghiên cứu đã thực hiện về tác động của mức sử dụng nợ đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chương 3 - MÔ HÌNH KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CỦA NỢ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP Giới thiệu về mô hình hồi quy ngưỡng (panel threshold regression) và các phương pháp kiểm định, ước lượng các giá trị ngưỡng và hệ số cho mô hình.
Đồng thời mô tả quá trình thu thập dữ liệu mẫu và các chỉ số thống kê của tập dữ liệu. Chương 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trình bày các kết quả kiểm định và giá trị ước lượng cho các thành phần của mô hình hồi quy ngưỡng. Chương 5 - ỨNG DỤNG XÁC ĐỊNH HẠN MỨC SỬ DỤNG NỢ CHO DOANH NGHIỆP Giới thiệu về ứng dụng phân loại doanh nghiệp và xác định hạn mức sử dụng nợ cho doanh nghiệp. Chương 6 – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Tổng kết các vấn đề nghiên cứu đạt được, những hạn chế chưa giải quyết được và kiến nghị đối người sử dụng kết quả của nghiên cứu.
5 CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ NỢ CỦA DOANH NGHIỆP 2. Các khái niệm liên quan đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp 2. Cấu trúc tài chính Lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại cho rằng, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp bao gồm nợ ngắn hạn cộng với nợ trung, dài hạn và vốn chủ sở hữu. Tất cả các nguồn lực tài chính này đều được sử dụng để tài trợ tài sản của doanh nghiệp.
Nguyễn Hữu Phú (2005) cho rằng, cấu trúc tài chính là một khái niệm rộng, phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn doanh nghiệp. Theo quan điểm của Nguyễn Văn Công (2006), cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp được xem xét theo nhiều cách khác nhau. Theo nghĩa hẹp, cấu trúc tài chính phản ánh cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Theo nghĩa rộng, khi xem xét cấu trúc tài chính, các nhà quản lý xem xét cả cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa cơ cấu tài sản và nguồn vốn.
Như vậy, cấu trúc tài chính doanh nghiệp là một khái niệm đề cập đến việc doanh nghiệp sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp. Cấu trúc tài chính phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Cấu trúc tài sản của doanh nghiệp Cấu trúc tài sản thể hiện sự đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp; tính hợp lý khi đầu tư vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cấu trúc tài sản của doanh nghiệp gắn liền với việc sử dụng vốn, phản ánh và chịu sự tác động của những đặc điểm và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài sản doanh nghiệp bao gồm: - Tài sản ngắn hạn là những tài sản có kỳ luân chuyển ngắn, thường là trong vòng một năm. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, các 6 khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản ngắn hạn khác. - Tài sản dài hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc do doanh nghiệp kiểm soát có kỳ luân chuyển ngắn, thường là trên một năm. Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và những tài sản dài hạn khác.
Chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài sản là chỉ tiêu tỷ suất đầu tư. Các chỉ tiêu này bao gồm: - Tỷ suất đầu tư tổng quát phản ánh mức độ đầu tư tài sản dài hạn trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng tăng, phản ánh quy mô cơ sở vật chất kỷ thuật của doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, năng lực sản xuất mở rộng, đầu tư tài chính càng cao. Tỷ suất này được tính toán qua công thức sau: Tài sản dài hạn Tỷ suất đầu tư tổng quát = x 100% Tổng tài sản - Tỷ suất đầu tư tài sản cố định phản ánh mức độ đầu tư tài sản cố định trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này càng tăng, phản ánh quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, năng lực sản xuất mở rộng. Tỷ suất này được tính toán qua công thức sau: Tài sản cố định Tỷ suất đầu tư tài sản cố định = x 100% Tổng tài sản - Tỷ suất đầu tư tài chính dài hạn phản ánh mức độ đầu tư tài chính dài hạn trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng tăng, phản ánh mức độ đầu tư tài chính càng cao. Tỷ suất này được tính toán qua công thức sau: Trị giá đầu tư tài chính dài hạn Tỷ suất đầu tư tài chính dài hạn = x 100% Tổng tài sản 2.
Cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp Cấu trúc nguồn vốn phản ánh chính sách tài trợ của doanh nghiệp. Các nguồn tài trợ cho một doanh nghiệp được chia thành hai loại: (i) nợ phải trả, (ii) vốn chủ sở 7 hữu. Tính chất của hai nguồn vốn này hoàn toàn khác nhau về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp. Đối với nợ phải trả, doanh nghiệp phải cam kết thanh toán với các chủ nợ số nợ gốc và các khoản chi phí sử dụng vốn theo thời hạn quy định.
Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. - Nợ ngắn hạn phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Nguồn vốn nợ ngắn hạn thường có chi phí sử dụng thấp nhưng thường tạo ra mức thanh khoản lớn đối với doanh nghiệp và thường được sử dụng để đầu tư vào các tài sản ngắn hạn. Nợ ngắn hạn bao gồm: vay và nợ ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, phải trả người lao động, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, các khoản phải trả phải nộp khác.
- Nợ dài hạn phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong thời gian lớn hơn một năm hay nhiều chu kỳ kinh doanh. Nguồn vốn nợ dài hạn thường được sử dụng để đầu tư vào các tài sản dài hạn. Nợ dài hạn bao gồm vay và nợ dài hạn, phải trả dài hạn người bán, phải trả dài hạn nội bộ, phải trả dài hạn khác. Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, người chủ sở hữu vốn chỉ kỳ vọng vào lợi ích được mang lại từ hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn chủ sở hữu thể hiện phần tài trợ của chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Vì vậy, xét về khía cạnh tự chủ tài chính, nguồn vốn này thể hiện năng lực vốn có của người chủ sở hữu trong tài trợ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác của chủ sở hữu, cổ phiếu quỹ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khác thuộc vốn sở hữu, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, nguồn kinh phí quỹ khác. 8 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: - Tỷ suất nợ phản ánh mức độ sử dụng vốn vay nợ của doanh nghiệp.
Tỷ suất này còn cho biết mức độ rủi ro tài chính mà doanh nghiệp đang phải đối diện cũng như mức độ của đòn bẩy tài chính mà doanh nghiệp đang sử dụng. Nguyễn Minh Kiều (2011) đề nghị sử dụng tỷ suất nợ để đo lường nợ trong phân tích cấu trúc tài chính của một công ty. Tỷ lệ nợ càng cao, áp lực trả nợ càng lớn, rủi ro trong dài hạn càng lớn, đồng thời thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng thấp. Tỷ suất nợ trên tổng nguồn vốn là tỷ số phổ biến phản ánh mức độ sử dụng nợ của công ty; là một tỷ số tổng quát có thể đánh giá được mối tương quan giữa tổng nợ và tổng tài sản, được xác định: D Nợ phải trả Tỷ suất nợ ( ) = x 100% A Tổng tài sản Tương ứng: Nợ ngắn hạn Tỷ suất nợ ngắn hạn = x 100% Tổng tài sản Nợ dài hạn Tỷ suất nợ dài hạn = x 100% Tổng tài sản - Tỷ suất tự tài trợ phản ánh mức độ tự chủ của doanh nghiệp về mặt tài chính.
Tỷ suất tự tài trợ càng cao thể hiện mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng lớn. Tỷ suất này được tính toán như sau: E Nguồn vốn chủ sở hữu Tỷ suất tự tài trợ ( ) = x 100% A Tổng tài sản - Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu cho biết số đồng nợ tham gia cùng với một đồng vốn chủ sở hữu trong việc tài trợ tài sản của doanh nghiệp. Tỷ suất này phản ánh mức độ tự chủ cũng như rủi ro của doanh nghiệp về mặt tài chính. Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu càng lớn thể hiện mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng thấp và rủi ro tài chính của doanh nghiệp càng cao.
Tỷ suất này được tính toán như sau: 9 D Nợ phải trả Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu ( ) = x 100% E Nguồn vốn chủ sở hữu Tóm lại, về mặt bản chất, cấu trúc tài chính là quan hệ giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, được thể hiện bằng chỉ tiêu tỷ suất nợ của doanh nghiệp. Việc gia tăng sử dụng nợ của doanh nghiệp sẽ khuyếch đại thành công (lời) lẫn thất bại (lỗ) cho cổ đông. Do vậy, tính toán mức tối ưu để doanh nghiệp không quá rủi ro khi sử dụng quá nhiều nợ đồng thời không bỏ qua các cơ hội đầu tư do thiếu vốn là việc làm cần thiết.