Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Vinh là đô thị loại 1 giữ vai trò trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh Nghệ An với tổng diện tích tự nhiên đạt 104,99 km2 (tương đương 10.499 ha). Tính đến năm 2017, diện tích đất nông nghiệp của toàn thành phố còn 4.799,92 ha, chiếm 45,71% tổng quỹ đất tự nhiên. Trong cơ cấu đất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa chiếm ưu thế với 2.275,93 ha, đất trồng cây lâu năm đạt 1.082,85 ha và đất trồng cây hàng năm khác chiếm 836,86 ha. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ đã tạo áp lực lớn lên quỹ đất canh tác, khiến tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm dần từ 1,99% năm 2014 xuống 1,68% vào năm 2017, đóng góp giá trị sản xuất ước đạt 447 tỷ đồng. Cùng với sự gia tăng dân số lên mức 317.000 người và thu nhập bình quân đầu người tăng từ 51 triệu đồng năm 2013 lên 68 triệu đồng năm 2017, nhu cầu về nông sản chất lượng cao, thực phẩm an toàn và cảnh quan sinh thái đô thị ngày càng trở nên bức thiết.

Vấn đề đặt ra là phương thức khai thác tài nguyên đất đai tại địa phương còn manh mún, chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn chậm và nguy cơ suy thoái đất canh tác có xu hướng gia tăng. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2012 - 2017, phân hạng các loại hình canh tác trên địa bàn, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương tái cấu trúc ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng trên 1 ha đất canh tác và bảo đảm an sinh xã hội cho người nông dân ven đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sử dụng đất bền vững theo khung đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1990) và Hội Khoa học Đất Việt Nam (2000). Mô hình đánh giá tính bền vững được xác lập dựa trên 3 trụ cột thiết yếu: bền vững về kinh tế (năng suất sinh học cao, giá trị sản xuất vượt mức bình quân vùng), bền vững về xã hội (giải quyết việc làm nông thôn, nâng cao thu nhập, mức độ chấp thuận của người dân đạt trên 75%), và bền vững về môi trường (duy trì độ che phủ đất sinh thái tối thiểu trên 35%, bảo vệ độ phì nhiêu và hạn chế suy thoái đất). Bên cạnh đó, luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế nông nghiệp đô thị và quan điểm của Các Mác về sử dụng đất đai hiệu quả thông qua quy luật tiết kiệm thời gian lao động và phân phối tối ưu các nguồn lực.

Bốn khái niệm cốt lõi được áp dụng xuyên suốt công trình gồm:

  1. Đất nông nghiệp: Tư liệu sản xuất đặc biệt được quy định theo Luật Đất đai năm 2013, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác.
  2. Loại sử dụng đất (LUT): Phản ánh trạng thái sử dụng đất đai với các đặc tính sinh thái, kỹ thuật và quản lý cụ thể.
  3. Kiểu sử dụng đất: Hệ thống luân canh, xen canh hoặc độc canh cây trồng, vật nuôi cụ thể trên một đơn vị diện tích trong chu kỳ một năm.
  4. Hiệu quả sử dụng đất tổng hợp: Mối tương quan tổng hòa giữa kết quả đầu ra về mặt kinh tế, lợi ích xã hội mang lại và mức độ an toàn sinh thái cho môi trường đất.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thành phố Vinh giai đoạn 2010 - 2017, báo cáo hiện trạng của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nghệ An.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập với cỡ mẫu khảo sát gồm 120 hộ nông dân tại 4 xã đại diện cho các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp đặc trưng của thành phố: xã Nghi Liên (30 hộ đại diện cho vùng chuyên rau và chuyên màu), xã Nghi Ân (30 hộ đại diện cho vùng trồng hoa cây cảnh và cây ăn quả), xã Hưng Chính (30 hộ đại diện cho vùng chuyên lúa), và xã Hưng Hòa (30 hộ đại diện cho vùng nuôi trồng thủy sản). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là kỹ thuật phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản tại từng địa bàn nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất cho 19 kiểu sử dụng đất thực tế.

Phương pháp phân tích sử dụng kỹ thuật phân tổ thống kê, tính toán giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp và đánh giá đa tiêu chí (MCA) dựa trên ma trận tính điểm phân cấp. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là khả năng lượng hóa chính xác 10 chỉ tiêu liên ngành (5 chỉ tiêu kinh tế, 3 chỉ tiêu xã hội, 2 chỉ tiêu môi trường) trên thang điểm 30, giúp so sánh khách quan và khoa học giữa các mô hình canh tác có đặc thù chi phí, vòng quay vốn và tác động môi trường hoàn toàn khác biệt.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và tổng hợp dữ liệu đã xác định trên địa bàn thành phố Vinh hiện có 7 loại sử dụng đất (LUT) chính với 19 kiểu sử dụng đất cụ thể. Trong đó, loại sử dụng đất chuyên lúa chiếm diện tích lớn nhất với 1.511,03 ha, tương đương 33,20% tổng diện tích đất nông nghiệp của thành phố, phân bố chủ yếu tại các xã đồng bằng như Hưng Chính và Hưng Đông.

Về hiệu quả kinh tế, kết quả phân tích cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các mô hình canh tác:

  1. LUT hoa cây cảnh đạt hiệu quả kinh tế vượt trội nhất với giá trị sản xuất đạt 354,00 triệu đồng/ha/năm, thu nhập hỗn hợp đạt 249,75 triệu đồng/ha, giá trị ngày công lao động đạt 292.000 đồng/công/ngày và hiệu quả đồng vốn đạt 2,5 lần.
  2. LUT chuyên lúa cho hiệu quả kinh tế thấp nhất trong các nhóm khảo sát với giá trị ngày công và thu nhập thuần chỉ đạt mức trung bình, chịu rủi ro cao trước biến động thời tiết và chi phí phân bón gia tăng.

Về hiệu quả xã hội, LUT hoa cây cảnh tiếp tục dẫn đầu khi thu hút lượng lớn lao động với 848 công lao động/ha/năm, đồng thời mức độ tiêu thụ sản phẩm trên thị trường đô thị và mức độ chấp nhận chuyển đổi của các nông hộ đều đạt trên 80%.

Về hiệu quả môi trường, LUT nuôi trồng thủy sản và cây ăn quả đạt điểm số sinh thái cao nhất nhờ khả năng duy trì độ che phủ đất ổn định quanh năm và kiểm soát lượng hóa chất nông nghiệp. Ngược lại, một số kiểu sử dụng đất chuyên màu và chuyên rau thâm canh cao tại xã Nghi Liên có mức sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật cao hơn từ 15% đến 25% so với khuyến cáo của ngành nông nghiệp.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả vượt trội của mô hình hoa cây cảnh và rau an toàn bắt nguồn từ lợi thế vị trí địa lý của thành phố Vinh. Với quy mô dân số trên 317.000 người, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì trên 9% và mức thu nhập 68 triệu đồng/người/năm, nhu cầu tiêu dùng hoa tươi, cây thế trang trí và thực phẩm sạch tại các đô thị loại 1 là rất lớn. Các nông hộ tại xã Nghi Ân đã nhạy bén tận dụng nguồn đất cát pha để phát triển làng nghề hoa kiểng, tạo ra giá trị thặng dư cao gấp nhiều lần so với trồng lúa truyền thống.

Khi so sánh với các nghiên cứu lân cận, kết quả tại thành phố Vinh phản ánh tính quy luật rõ rệt của nông nghiệp ven đô. Cụ thể, nghiên cứu của tác giả Cần Quốc Hoàn năm 2012 tại thị xã Cửa Lò ghi nhận mô hình chuyên rau màu đạt giá trị sản xuất 106,31 triệu đồng/ha và thu hút 854 công lao động. Trong khi đó, nghiên cứu của tác giả Lê Viết Phú năm 2014 tại huyện nông nghiệp Nghĩa Đàn cho thấy mô hình lúa - màu chỉ đạt thu nhập hỗn hợp 47,32 triệu đồng/ha với giá trị ngày công 80.336 đồng. Sự vượt bậc về giá trị sản xuất 354,00 triệu đồng/ha của thành phố Vinh khẳng định thị trường tiêu thụ đô thị và trình độ thâm canh đóng vai trò đòn bẩy quyết định.

Về phương thức trực quan hóa dữ liệu, sự chênh lệch hiệu quả giữa 19 kiểu sử dụng đất có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu chi phí trung gian và thu nhập hỗn hợp trên 1 ha, kết hợp với đồ thị mạng nhện thể hiện sự tương quan giữa 3 trục kinh tế, xã hội và môi trường. Bảng tổng hợp ma trận điểm phân cấp sẽ giúp các cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện nhóm canh tác đạt hiệu quả cao (trên 23 điểm) để đưa vào quy hoạch ưu tiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá tổng hợp, 4 nhóm giải pháp trọng tâm được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Vinh:

  1. Quy hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo tín hiệu thị trường: Ủy ban nhân dân thành phố Vinh và Phòng Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo rà soát, chuyển đổi linh hoạt khoảng 300 ha đến 500 ha đất lúa hiệu quả thấp sang phát triển vùng hoa cây cảnh tập trung tại xã Nghi Ân, Nghi Đức và vùng rau an toàn chuyên canh tại xã Nghi Liên trong giai đoạn 2023 - 2026, hướng tới mục tiêu nâng giá trị sản xuất bình quân toàn ngành lên trên 200 triệu đồng/ha/năm.
  2. Hoàn thiện hệ thống hạ tầng thủy lợi và giao thông nội đồng: Ban Quản lý dự án thành phố phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các xã triển khai nâng cấp 100% hệ thống kênh mương tưới tiêu chủ động cho 4.799,92 ha đất nông nghiệp, cứng hóa các tuyến đường nội đồng đạt chuẩn cơ giới hóa nhằm giảm 20% chi phí trung gian vận chuyển và thu hoạch nông sản trước năm 2025.
  3. Thiết lập chuỗi liên kết giá trị và xúc tiến thương mại nông sản: Hội Nông dân thành phố chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp, hợp tác xã tại 17 chợ đầu mối và hệ thống siêu thị để bao tiêu sản phẩm nông nghiệp sạch, bảo đảm tỷ lệ tiêu thụ nông sản ổn định đạt trên 85% vào năm 2025, đồng thời xây dựng thương hiệu cho sản phẩm làng nghề hoa Nghi Ân.
  4. Đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật và nông nghiệp hữu cơ: Trung tâm Khuyến nông thành phố tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác VietGAP, khuyến khích thay thế thuốc hóa học bằng chế phẩm sinh học, phấn đấu giảm 30% lượng thuốc bảo vệ thực vật hóa học và tăng tỷ lệ bón phân hữu cơ vi sinh lên trên 60% vào năm 2028 nhằm bảo vệ độ phì nhiêu tài nguyên đất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng các số liệu thực chứng về 19 kiểu sử dụng đất để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, lập kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch chung đô thị loại 1.
  2. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các viện nghiên cứu, trường đại học đào tạo ngành Quản lý đất đai (mã ngành 8850103), Kinh tế nông nghiệp có thể khai thác khung phương pháp đánh giá đa tiêu chí (MCA), dữ liệu mẫu 120 hộ làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu mở rộng cho các đô thị ven biển miền Trung.
  3. Doanh nghiệp nông nghiệp và hợp tác xã: Các nhà đầu tư có cơ sở dữ liệu kinh tế chi tiết (thu nhập hỗn hợp 249,75 triệu đồng/ha, hiệu quả đồng vốn 2,5 lần) để lập phương án kinh doanh, đầu tư nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng chuỗi cung ứng hoa kiểng, rau sạch.
  4. Các nông hộ và chủ trang trại ven đô: Giúp bà con nông dân lựa chọn các công thức luân canh tối ưu, tiếp cận quy trình thâm canh tiết kiệm chi phí và định hướng chuyển đổi cây trồng để đạt giá trị ngày công trên 290.000 đồng/công.

Câu hỏi thường gặp

Loại sử dụng đất nào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất tại thành phố Vinh? Loại sử dụng đất hoa cây cảnh mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với giá trị sản xuất đạt 354,00 triệu đồng/ha, thu nhập hỗn hợp đạt 249,75 triệu đồng/ha và hiệu quả đồng vốn gấp 2,5 lần. Mô hình này phát triển mạnh tại xã Nghi Ân nhờ đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng cây cảnh, hoa tươi của thị trường đô thị.

Tại sao đất chuyên lúa vẫn chiếm diện tích lớn nhất dù hiệu quả kinh tế không cao? Đất chuyên lúa chiếm 1.511,03 ha (chiếm 33,20% quỹ đất nông nghiệp) do tập quán canh tác lâu đời của nông dân và vai trò bảo đảm an ninh lương thực cục bộ tại các xã như Hưng Chính. Tuy nhiên, giá trị kinh tế thấp đòi hỏi địa phương cần có kế hoạch chuyển đổi từng bước sang cây trồng cạn có giá trị cao hơn.

Quy mô khảo sát 120 hộ nông dân tại 4 xã có bảo đảm độ tin cậy khoa học không? Quy mô 120 hộ tại 4 xã Nghi Liên, Nghi Ân, Hưng Chính và Hưng Hòa hoàn toàn bảo đảm độ tin cậy khoa học vì 4 địa bàn này đại diện đầy đủ cho 4 tiểu vùng sinh thái đặc trưng gồm: vùng chuyên rau màu, vùng hoa cây cảnh, vùng lúa thâm canh và vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ.

Quá trình đô thị hóa ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp của thành phố? Đô thị hóa làm diện tích đất nông nghiệp giảm còn 4.799,92 ha, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống 1,68% vào năm 2017. Quỹ đất thu hẹp tạo áp lực buộc ngành nông nghiệp phải chuyển dịch từ thâm canh truyền thống sang nông nghiệp đô thị ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp sinh thái.

Mô hình nuôi trồng thủy sản tại xã Hưng Hòa có ưu thế gì về môi trường? Nuôi trồng thủy sản tại vùng đất trũng ngập mặn xã Hưng Hòa tận dụng tốt nguồn nước tự nhiên của hệ thống sông Lam, đạt điểm số môi trường cao nhờ mức độ thích ứng sinh thái tốt, kiểm soát lượng thức ăn công nghiệp và hạn chế tối đa sử dụng kháng sinh theo hướng dẫn khuyến nông.

Kết luận

  • Quỹ đất nông nghiệp thành phố Vinh năm 2017 đạt 4.799,92 ha với 7 loại sử dụng đất chính và 19 kiểu sử dụng đất phong phú.
  • Mô hình hoa cây cảnh đứng đầu về hiệu quả kinh tế với giá trị sản xuất 354,00 triệu đồng/ha và thu nhập hỗn hợp 249,75 triệu đồng/ha.
  • Khả năng giải quyết việc làm đạt mức cao 848 công lao động/ha đối với các mô hình nông nghiệp đô thị ven đô.
  • Đất chuyên lúa chiếm tỷ trọng lớn 1.511,03 ha (33,20%) cần được tái cấu trúc mạnh mẽ sang 5 nhóm sử dụng đất trọng điểm.
  • Khung đánh giá đa tiêu chí đã lượng hóa toàn diện hiệu quả kinh tế, an sinh xã hội và an toàn môi trường sinh thái.

Luận văn đã cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc quản lý, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại các đô thị loại 1 khu vực Bắc Trung Bộ. Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn 2025 - 2030, chính quyền thành phố và các cơ quan chuyên môn cần nhanh chóng triển khai các chính sách hỗ trợ vốn, liên kết chuỗi giá trị và chuyển giao công nghệ cho người nông dân ven đô.