CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Khái quát hóa về mô hình VNEN Trong khoảng từ 10 năm đầu của thế kỉ XXI đến nay, giáo dục Việt Nam đã được triển khai nhiều dự án giáo dục như dự án giáo viên tiểu học, dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, dự án Việt Bỉ, dự án của Jica, dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (GPE-VNEN),… Các dự án này đều nhằm giúp giáo dục Việt Nam làm quen với các phương pháp dạy học tích cực lấy HS làm trung tâm và phần nào nâng cao chất lượng giáo viên. Trong đó duy nhất dự án GPE-VNEN đã tiếp cận đến sự thay đổi toàn diện nhà trường, một mô hình sư phạm theo hướng tiếp cận hiện đại – mô hình VNEN.
Theo Đặng Tự Ân (2015), mô hình VNEN được hình thành và phát triển từ mô hình Mô hình Escuela Nueva (viết tắt là EN) của đất nước Cô-lôm-bia. Mô hình EN đã được phát triển ở đất nước này từ những năm 70-80 của thế kỉ trước. EN là kết quả sự hợp tác GD của nhiều chuyên gia và các nhà thực tiễn GD từ Mĩ, Anh, Canada, Ốt-xtrây-lia, Tây Ban Nha, Mĩ La Tinh,… Mô hình EN đã có sức hấp dẫn và lan tỏa nhanh chóng ở nhiều nước vùng Ca-ri-bê và khắp các nước châu Mĩ La tinh. Năm 2000, Liên hợp quốc đã chọn mô hình EN là một trong ba cải cách đáng chú ý nhất của Cô-lôm-bia và được UNESCO coi là mô hình nhà trường có chất lượng tốt nhất về GD tiểu học ở các vùng nông thôn của châu Mĩ La tinh.
Tới năm cuối năm 2009 đầu năm 2010, mô hình EN bắt đầu được nghiên cứu và năm học 2011-2012 đưa vào vận dụng ở Việt Nam với tên gọi mô hình VNEN. Mô hình VNEN là sự tích hợp mạnh mẽ giữa những yếu tố tích cực của mô hình EN với thành tựu GD nhiều năm đổi mới ở Việt nam để trở thành mô hình nhà trường mới của Việt Nam. Cũng theo Đặng Tự Ân (2016), mô hình VNEN được xây dựng dựa trên quan điểm và lí luận GD hiện đại và kết hợp hài hòa với thực tiễn của GD Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn thay đổi, phát triển của một nền GD đều bị chi phối bởi triết lí GD, đó là một hệ thống lí thuyết để định hướng GD con người ở mỗi thời kì, mỗi hoàn cảnh.
Triết lí của mô hình VNEN nằm trong bối cảnh của sự hiểu biết về triết lí GD phổ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông, triết lí của người học, người dạy và nhà quản lí GD, triết lí của nội dung và phương pháp GD. Nội dung triết lí được nêu ra trong cuốn “Mô hình trường học mới Việt Nam nhìn từ góc độ thực tiễn và lí luận” là sự tổng hợp các yếu tố mang tính bản chất của mô hình cùng với định hướng phát triển của mô hình. Theo tác giả, nội dung này có khả năng chi phối tất cả hoạt động của mô hình VNEN. Triết lí của mô hình VNEN được thể hiện qua những nội dung có ý nghĩa bản chất của các yếu tố sau: a) Chiến lược của mô hình VNEN Quan điểm lấy HS làm trung tâm trong quá trình hoạt động học tập là trụ cột và giá đỡ của mô hình VNEN.
Đây là tư tưởng GD hiện đại được sự đồng thuận của cộng đồng GD thế giới. Mặt khác, khi đã coi HS là chủ thể, là trung tâm trong quá trình học tập thì nó sẽ có tác động chi phối tới các hoạt động của mô hình VNEN. b) Các chủ thể của mô hình VNEN Các chủ thể trong mô hình VNEN là HS, GV và gia đình (cộng đồng). Các chủ thể này luôn gắn kết và tương tác hai chiều với nhau.
Các chủ thể nêu trên thực chất là trường hợp riêng của ba tác nhân Người học – Người dạy – Môi trường nổi tiếng được Jean-Mare Denommé và Madeleine Roy đề cập tới trong phương pháp sư phạm tương tác. Ở đó, các nhà nghiên cứu cho rằng quá trình dạy học là sự tương tác lẫn nhau giữa 3 yếu tố (xem Hình 1. Các chủ thể của mô hình VNEN (Nguồn: Jean-Mare Denommé và Madeleine Roy, 2000) a) Các đặc trưng cơ bản của mô hình VNEN bao gồm: - Tài liệu Hướng dẫn học và Hướng dẫn hoạt động GD ; 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tổ chức lớp học và tổ chức các hoạt động học tập; - Kiểm tra ĐG HS; - Chiến lược tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo GV và cán bộ QLGD; - Đổi mới tăng cường sinh hoạt chuyên môn; Nghiên cứu điều chỉnh tài liệu. b) Những nội dung hàm chứa triết lí trong mô hình VNEN có thể thấy: - Về mục tiêu của dạy học: thầy dạy cho HS biết tự học, lấy tự học làm cốt và GD đáp ứng nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu thực tiễn của địa phương.
- Về định hướng cho dạy học và ĐG: dựa trên sự hợp tác và hỗ trợ. - Về vị trí, hiệu quả của ba chủ thể chính trong mô hình VNEN: Sự tham gia và tương tác bằng cải thiện thành tích học tập. - Về bản chất của dạy học: GV định hướng, tổ chức để HS hoạt động. Mô hình VNEN được xây dựng dựa trên hai trục lý thuyết GD là Thuyết kiến tạo và Thuyết hoạt động.
Đặng Tự Ân (2016) cho rằng học tập kiến tạo phải tuân theo các nguyên lí như: (1) Học qua trải nghiệm: Học qua làm, qua thực tế và dựa trên những ĐG phân tích những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có là cách học hiệu quả, không thụ động và phù hợp với quá trình nhận thức của HS. Vì thế cần hiểu rằng, dạy và học là cùng nhau xây dựng cái mới trên nền cái cũ, tức là phải để cho HS được trải nghiệm; (2) Học qua sự tương tác: Học thông qua sự tương tác đa chiều giúp HS hiểu rõ và nắm vững hơn các kiến thức khoa học. Do đó, việc học của HS sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn nếu HS được học qua tương tác, thông qua học cá nhân, thảo luận và trong một môi trường thân thiện với các em; (3) Học qua GQVĐ: Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề. Học là để tạo điều kiện cho HS tập dượt khả năng phát hiện vấn đề, từ một tình huống học tập hay nhu cầu thực tiễn cuộc sống, sau đó, cố gắng giải quyết hợp lí vấn đề đặt ra.
Đây là cách học tốt nhất cho phát triển NL và học tập suốt đời của HS. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặng Tự Ân (2015) cũng cho rằng, học qua hoạt động là rất quan trọng. Trong dạy học, nguyên lí này được hiểu là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của người học chỉ được hình thành bằng con đường người học hoạt động trực tiếp với đối tượng học tập. Học qua hoạt động thể hiện ở: Hoạt động tiếp nhận và phân tích nội dung học; hoạt động phát triển mô hình sang các dạng mới, vật liệu mới; hoạt động thực tiễn; hoạt động ĐG.
Mô hình VNEN là một kiểu mô hình nhà trường hiện đại, tiên tiến, thể hiện được nhiều ưu điểm nổi bật so với mô hình nhà trường trước đây. Đặng Tự Ân (2015) cho rằng: Mô hình VNEN là sự chuyển đổi, chủ yếu về mặt sư phạm, từ mô hình GD truyền thống, sang mô hình GD tiếp cận phát triển NL cho HS. Ngoài ra, mô hình cũng thực hiện việc tiếp cận của sự chuyển đổi từ mô hình dạy học sang mô hình học tập và từ mô hình ĐG kết quả, phân loại sang mô hình ĐG vì học tập, theo quá trình học tập của HS. Những vấn đề về giảng dạy tích hợp, phân hóa và tạo sự gắn bó, hiệu quả thiết thực giữa gia đình, cộng đồng và nhà trường cũng là những mục tiêu chủ yếu của mô hình.
Mô hình VNEN đã chuyển từ thuyết trình đồng loạt, áp đặt của GV sang quá trình tự học, tự tìm tòi, khám khá, tự kiến tạo của HS. Mỗi HS được xác định mục tiêu học tập cụ thể, chủ động trong các hoạt động của bản thân. Có thể khẳng định: mỗi cá nhân bằng hoạt động của mình hình thành nên nhân cách và tạo ra sự phát triển của bản thân. Với những tư tưởng nền tảng như trên, VNEN xác định các nguyên tắc vận hành của mô hình dạy học theo 4 tiêu chí cơ bản, bao gồm: (1) Mô hình VNEN định hướng về người học: HS là trung tâm của quá trình dạy học, được hướng dẫn để tự thực hiện quá trình học tập với chương trình tự học theo từng bước.
Các em được phát huy tính tích cực để tìm tòi, khám phá tri thức và vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống, được giao quyền tự quản và tăng cường hợp tác trong quá trình học tập; (2) Mô hình VNEN định hướng về vai trò của người dạy: GV là người tổ chức, hướng dẫn HS học theo từng bước dựa trên tài liệu học. GV góp phần kiến tạo, duy 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trì và thúc đẩy môi trường học tập tích cực, cởi mở, chú trọng tính hợp tác và cạnh tranh giữa các cá nhân HS; (3) Định hướng cho nhà trường thiết lập mối liên hệ chặt chẽ với cha mẹ HS và cộng đồng để cùng tham gia vào quá trình GD; (4) Định hướng về chương trình, nội dung và hoạt động dạy học: Chương trình, nội dung và hoạt động dạy học phải gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống. Như vậy, với 4 tiêu chí trên, mô hình VNEN đã xác định có 5 hoạt động cơ bản cho một giờ dạy học, đó là: Khởi động; Hình thành kiến thức mới; Luyện tập; Vận dụng; và Mở rộng. c) Mười vấn đề khác biệt trong mô hình VNEN Có thể thấy mô hình VNEN là một giải pháp GD hiện đại nhằm thay đổi nhà trường, phù hợp với xu thế phát triển chung của GD thế giới.
Mô hình VNEN có đầy đủ các yếu tố cơ bản về nhà trường kiểu mới, tức là nhà trường gắn kết chặt chẽ với gia đình và cộng đồng; chương trình nhà trường tiếp cận GD NL cho HS; thực hiện GD toàn diện; đảm bảo dân chủ, hợp tác trong các hoạt động nhà trường. Đặng Tự Ân (2016) đã đưa ra 10 vấn đề thay đổi khác biệt trong dạy học theo mô hình VNEN đó là: - Quan niệm dạy, quan niệm học: Là quá trình kiến tạo, tự khám phá, xử lí thông tin. HS tự tích lũy kiến thức, vốn hiểu biết và hình thành các NL, phẩm chất cho bản thân, thông qua các hoạt động học do GV tổ chức.