Tổng quan nghiên cứu

Đại dương bao phủ hơn 71% diện tích bề mặt Trái Đất và chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Tuy nhiên, tình trạng cạn kiệt tài nguyên trên đất liền đã thúc đẩy các quốc gia ven biển đẩy mạnh chiến lược vươn ra biển. Sự ra đời của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) đã tạo bước ngoặt xác lập trật tự pháp lý biển, song cũng làm phát sinh khoảng 400 vùng biển chồng lấn yêu sách chủ quyền trên toàn cầu. Cho đến nay, mới chỉ có hơn 100 vùng biển đạt được hiệp định phân định dứt khoát. Tại các khu vực chưa phân định ranh giới, việc đơn phương khai thác tài nguyên luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát xung đột vũ trang.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Quốc tế của tác giả Lê Xuân Long (người hướng dẫn: GS. TS Nguyễn Bá Diến, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017) tập trung giải quyết bài toán dung hòa giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và khai thác kinh tế thông qua cơ chế hợp tác khai thác chung (KTC). Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là làm rõ cơ sở pháp lý theo Điều 74 và Điều 83 UNCLOS 1982, phân tích các mô hình KTC tiêu biểu trên thế giới và đề xuất định hướng áp dụng phù hợp với bối cảnh Biển Đông. Với diện tích hơn 3.000.000 km² và bờ biển dài, Việt Nam quản lý vùng biển hơn 1.000.000 km² (chiếm gần 30% diện tích Biển Đông) cùng hơn 3.000 đảo lớn nhỏ. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, cung cấp luận cứ pháp lý nhằm giảm thiểu nguy cơ căng thẳng đối đầu, bảo đảm an ninh năng lượng và giữ vững chủ quyền quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng các học thuyết pháp lý kinh điển về biển, bắt đầu từ học thuyết "Biển tự do" (Mare Liberum, 1609) của Hugo Grotius và học thuyết "Biển kín" (Mare Clausum, 1653) của John Selden. Tác giả kết hợp học thuyết hiện đại về "Phát triển bền vững" trong quản trị biển của Peter Bautista Payoyo và các luận điểm pháp lý quốc tế của Rainer Lagoni, Hazel Fox và William Onorato.

Hệ thống khái niệm nòng cốt bao gồm: chế độ pháp lý vùng biển đặc quyền kinh tế (chiều rộng tối đa 200 hải lý), thềm lục địa (kéo dài đến 350 hải lý hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500m), vùng biển chồng lấn yêu sách và khái niệm hợp tác khai thác chung. Mô hình nghiên cứu vận dụng quy định tại khoản 3 Điều 74 và khoản 3 Điều 83 của UNCLOS 1982 về các "dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn" cùng nguyên tắc "không phương hại đến hoạch định ranh giới cuối cùng". Ngoài ra, nguyên lý công bằng rút ra từ phán quyết năm 1969 của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trong vụ tranh chấp Thềm lục địa Biển Bắc giữa CHLB Đức, Đan Mạch và Hà Lan đóng vai trò kim chỉ nam xác lập cơ chế chia sẻ quyền tài phán.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp bao gồm hệ thống điều ước quốc tế, văn bản pháp luật biển và mẫu khảo sát gồm 40 hiệp định hợp tác KTC tiêu biểu được ký kết trên thế giới từ năm 1958 đến năm 2017. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các phán quyết tài phán quốc tế của ICJ, các báo cáo khoa học của Viện Luật Quốc tế và Luật So sánh Anh, tài liệu Hội thảo quốc tế về Hydrocarbon tại Biển Đông.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng để lựa chọn các hiệp ước đại diện cho 4 khu vực địa lý lớn (Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ) và 2 nhóm tài nguyên chính (sinh vật và phi sinh vật). Phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp cùng phương pháp tổng hợp quy phạm và phương pháp duy vật biện chứng được lựa chọn nhằm bóc tách bản chất pháp lý của từng cấu trúc quản trị, từ đó đánh giá mức độ tương thích đối với điều kiện địa chính trị tại Biển Đông. Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành hệ thống hóa từ các án lệ quốc tế lịch sử đến thực tiễn đương đại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra rằng hợp tác KTC là giải pháp thực tiễn hiệu quả giúp hóa giải xung đột tài nguyên tại các vùng biển chồng lấn, với hơn 40 thỏa thuận KTC được ký kết thành công trên phạm vi toàn cầu. Luận văn đã phân loại và mô hình hóa thực tiễn quốc tế thành 5 cơ chế quản lý cơ bản:

Thứ nhất, mô hình quản lý thông qua cơ quan quyền lực chung độc lập (mô hình siêu quốc gia), điển hình là Bản ghi nhớ Malaysia - Thái Lan năm 1979 với thời hạn cấp quyền thăm dò lên đến 50 năm.

Thứ hai, mô hình hai chính phủ cùng quản lý thông qua cấu trúc hai cấp gồm Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban Liên hợp, tiêu biểu là Hiệp định Vùng trống Timor năm 1989 giữa Australia và Indonesia điều chỉnh vùng biển rộng 11.129 hải lý vuông chia làm 3 phân khu A, B, C.

Thứ ba, mô hình quốc gia đại diện quản lý, xuất hiện sớm nhất tại thỏa thuận năm 1958 giữa Bahrain và Saudi Arabia.

Thứ tư, mô hình doanh nghiệp góp vốn kinh doanh theo tỷ lệ 50-50, tiêu biểu là Hiệp định Nhật Bản - Hàn Quốc năm 1974 tại thềm lục địa Đông Hải với diện tích 24.092 hải lý vuông chia thành 9 tiểu vùng.

Thứ năm, mô hình doanh nghiệp nhà nước trực tiếp điều hành, áp dụng thành công trong Bản ghi nhớ năm 1992 giữa Việt Nam và Malaysia tại vùng chồng lấn Vịnh Thái Lan thông qua sự hợp tác giữa Petrovietnam và Petronas.

Về cơ cấu đối tượng, các thỏa thuận khai thác tài nguyên phi sinh vật (dầu khí) chiếm khoảng 75% tổng số hiệp định trên thế giới do đem lại nguồn thu vượt trội, trong khi các thỏa thuận nghề cá chiếm khoảng 20% (như thỏa thuận Vùng xám năm 1977 giữa Na Uy và Liên Xô rộng 67.500 km²) và tài nguyên hỗn hợp chiếm khoảng 5% (như Hiệp định Jan Mayen năm 1981 giữa Na Uy và Iceland rộng 45.470 km² với mức góp vốn 25%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự gia tăng của các thỏa thuận KTC là do dầu mỏ, khí đốt và than đá đáp ứng tới 90% tổng nhu cầu năng lượng toàn cầu, tạo sức ép buộc các nước ven biển phải nhanh chóng tiếp cận nguồn năng lượng đáy biển. Khi đàm phán phân định biên giới bị bế tắc kéo dài qua nhiều thập kỷ, giải pháp KTC đóng vai trò cầu nối hạ nhiệt căng thẳng chính trị.

So sánh với các nghiên cứu của Fox và Lagoni, tác giả khẳng định việc ký kết KTC không đồng nghĩa với từ bỏ chủ quyền lãnh thổ nếu thỏa thuận tích hợp đầy đủ điều khoản bảo lưu quyền chủ quyền theo tinh thần Điều 74 và Điều 83 UNCLOS 1982. Toàn bộ kho dữ liệu thực tiễn trong luận văn có thể được trực quan hóa thông qua bảng đối sánh ma trận 5 mô hình quản trị theo tiêu chí thẩm quyền tài phán và biểu đồ phân bổ tỷ lệ các loại hình khai thác tài nguyên. Kết quả nghiên cứu khẳng định Việt Nam có thể vận dụng linh hoạt mô hình doanh nghiệp nhà nước ủy quyền hoặc mô hình song phương từng bước để khai thác hiệu quả các khu vực giáp ranh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật biển quốc gia nhằm nội luật hóa đầy đủ các cam kết của UNCLOS 1982 về dàn xếp tạm thời, hướng đến mục tiêu đạt tỷ lệ tương thích 100% các quy định về quản lý hoạt động dầu khí và thủy sản ngoài khơi trước năm 2030. Chủ thể thực hiện là Quốc hội phối hợp cùng Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao.

Thứ hai, đẩy mạnh đàm phán ký kết các thỏa thuận hợp tác KTC song phương tại những vùng biển thực sự chồng lấn theo đúng luật pháp quốc tế, phát huy thành quả từ mô hình PM3-CAA Việt Nam - Malaysia để nâng sản lượng dầu khí khai thác chung an toàn lên hơn 30% tổng sản lượng khai thác biển giai đoạn 2026 - 2035. Chủ thể chủ trì là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao.

Thứ ba, thiết lập Ủy ban liên ngành điều phối hoạt động khai thác chung trên biển nhằm giám sát 100% quy trình cấp phép, thu thuế tài nguyên và kiểm soát an toàn môi trường biển đạt chuẩn quốc tế ISO 14001 vào năm 2028. Cơ quan chịu trách nhiệm gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.

Thứ tư, kiên quyết quán triệt nguyên tắc chỉ áp dụng hợp tác KTC tại các vùng biển chồng lấn thực sự được xác lập hợp pháp theo UNCLOS 1982, kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách đơn phương không có cơ sở pháp lý, bảo đảm giữ vững 100% toàn vẹn chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Chủ thể thực thi là Bộ Quốc phòng phối hợp chặt chẽ cùng các cơ quan đối ngoại quốc gia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, đàm phán viên ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao và Ủy ban Biên giới Quốc gia. Nhóm này có thể sử dụng luận văn làm tài liệu xây dựng phương án đàm phán phân định biển và soạn thảo các điều khoản dàn xếp tạm thời bảo vệ tối đa lợi ích quốc gia.

Nhóm thứ hai là lãnh đạo và chuyên gia pháp chế tại các tập đoàn năng lượng, đặc biệt là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam). Luận văn cung cấp use case thực tế để thiết kế hợp đồng chia sẻ sản phẩm dầu khí (PSC), quản trị rủi ro pháp lý và đàm phán liên doanh khai thác tại các mỏ nằm vắt ngang đường ranh giới.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên sau đại học và các nhà nghiên cứu chuyên sâu về Luật Biển quốc tế, Luật Thương mại quốc tế. Nghiên cứu đóng vai trò nguồn tài liệu học thuật giá trị, hệ thống hóa toàn diện các án lệ kinh điển của Tòa án Công lý Quốc tế và hơn 40 điều ước quốc tế mẫu mực.

Nhóm thứ tư là chỉ huy và cán bộ thực thi pháp luật thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Cục Kiểm ngư và Bộ Tư lệnh Hải quân. Luận văn giúp các lực lượng nắm vững cơ sở pháp lý về quyền tài phán trên các vùng nước lịch sử và vùng dàn xếp tạm thời để thực hiện nhiệm vụ tuần tra đúng luật định.

Câu hỏi thường gặp

Khai thác chung có làm tổn hại đến tuyên bố chủ quyền quốc gia đối với vùng biển tranh chấp hay không? Hoàn toàn không, vì theo khoản 3 Điều 74 và khoản 3 Điều 83 UNCLOS 1982, các thỏa thuận khai thác chung chỉ là dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không làm phương hại đến việc phân định ranh giới dứt khoát cuối cùng.

Căn cứ pháp lý quốc tế quan trọng nhất điều chỉnh hoạt động khai thác chung là gì? Cơ sở pháp lý nền tảng là khoản 3 Điều 74 (về phân định vùng đặc quyền kinh tế) và khoản 3 Điều 83 (về phân định thềm lục địa) của UNCLOS 1982, kết hợp các nguyên tắc tập quán quốc tế và phán quyết Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 của ICJ.

Việt Nam đã từng áp dụng thành công mô hình hợp tác khai thác chung nào trên thực tế? Việt Nam đã triển khai rất thành công Bản ghi nhớ năm 1992 với Malaysia tại vùng thềm lục địa chồng lấn trong Vịnh Thái Lan theo mô hình ủy quyền cho hai công ty nhà nước là Petrovietnam và Petronas cùng tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí và phân chia lợi nhuận công bằng.

Tại sao khai thác chung dầu khí lại phổ biến hơn khai thác chung nghề cá? Khai thác dầu khí chiếm hơn 75% thỏa thuận do mang lại lợi nhuận kinh tế lớn và đòi hỏi vốn đầu tư kỹ thuật cao, thúc đẩy các nước hợp tác để tối ưu hóa chi phí. Ngược lại, nghề cá mang tính sinh thái, khó kiểm soát sản lượng đánh bắt của ngư dân nên việc quản trị phức tạp hơn.

Điều kiện tiên quyết để xác lập một vùng hợp tác khai thác chung hợp pháp tại Biển Đông là gì? Vùng biển đó phải là vùng chồng lấn thực sự được tạo ra bởi các yêu sách hợp pháp được xác lập dựa trên đúng quy định của UNCLOS 1982, không được áp dụng tại các vùng biển hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của một quốc gia.

Kết luận

  • Luận văn luận giải sâu sắc cơ sở pháp lý của hoạt động khai thác chung theo quy định tại Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS 1982.
  • Hệ thống hóa 5 mô hình quản trị khai thác chung tiêu biểu từ hơn 40 điều ước quốc tế trên thế giới.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của Bản ghi nhớ Việt Nam - Malaysia năm 1992 như một hình mẫu thành công tại Đông Nam Á.
  • Đề xuất khung giải pháp toàn diện kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu phát triển kinh tế biển và nhiệm vụ bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia.
  • Định hình lộ trình thực thi rõ ràng từ hoàn thiện thể chế nội luật hóa giai đoạn 2026 - 2030 đến mở rộng quy mô hợp tác song phương đến năm 2035.

Công trình của tác giả Lê Xuân Long đã đóng góp một hệ thống lý luận hoàn chỉnh và thực tiễn phong phú về cơ chế dàn xếp tạm thời trên biển. Các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp năng lượng và cộng đồng nghiên cứu luật quốc tế nên tiếp tục khai thác những gợi mở quý báu này để hiện thực hóa chiến lược bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.