Chương 1: Lý luận chung về căn cứ tính thuế và pháp luật về căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân. * Chương 2: Thực trạng pháp luật về căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam. * Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân Do trong thuật ngữ kinh tế tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về thuế như: Thuế là một khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội. Thuế là khoản thu có tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp theo luật định. Marx viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước"[8].
Các nhà nguyên cứu kinh tế khác cho rằng “Thuế là hình thức phân phối thu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”[14]. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về Thuế khác nhau nhưng chúng ta cũng nhận thấy những điểm tương đồng sau: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định. Thuế mang tính bắt buộc và không mang tính hoàn trả trực tiếp, ngang giá. Một phần thuế nộp vào ngân sách Nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và quỹ tiêu dùng khác.
Là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống thuế, trên cơ sở những khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra định nghĩa về thuế TNCN theo pháp luật hiện hành như sau: Thuế TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngân sách Nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoảng thu nhập từ kinh doanh, đầu tư,… Sự xuất hiện của thuế thu nhập cá nhân do những nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập. Thứ hai, do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước. Thứ ba, thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ linh hoạt để điều tiết vĩ mô, kích thích tiêu dùng hoặc đầu tư để phát triển kinh tế. * Thuế thu nhập cá nhân có các đặc điểm nổi bật như sau: - Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế.
Đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập. - Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước. - Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp. - Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. * Vai trò của thuế thu nhập cá nhân: - Góp phần thực hiện công bằng xã hội; - Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm; - Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước; - Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp; 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế; - Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp; - Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác. Khái quát về căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân 1.
Khái niệm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân Căn cứ tính thuế là khái niệm dùng để chỉ những đại lượng nhất định được sử dụng làm cơ sở xác định số thuế phải nộp cho từng đối tượng chịu thuế riêng biệt. Căn cứ tính thuế TNCN bao gồm thu nhập tính thuế và thuế suất. Căn cứ tính thuế TNCN được chia thành nhiều nhóm tùy theo cách phân loại khác nhau. Dựa trên cơ sở người chịu thuế có thể chia thành hai nhóm lớn: - Căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế đối với cá nhân cư trú; - Căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế đối với cá nhân không cư trú.
Việc phân chia như vậy nhằm mục đích tạo thuận lợi cho việc quản lý cũng như giúp các nhà làm luật có thể đưa ra những quy định pháp luật phù hợp với từng đối tượng. Cụ thể, đối với các cá nhân cư trú do hoạt động một cách thường xuyên, trong khoảng thời gian dài nên cơ quan quản lý có thể nắm bắt được các thông tin cá nhân của họ (độ tuổi, nhân thân, gia đình, thu nhập, các hoạt động kinh doanh…) vì vậy nên đối tượng này sẽ được áp dụng những quy định mang tính chất dài hơi (ví dụ: được tính giảm trừ gia cảnh, được trừ các chi phí hợp lý khi tiến hành các hoạt động kinh doanh…). Ngược lại, đối với những cá nhân không cư trú, việc họ “có mặt” trên lãnh thổ của một quốc gia chỉ trong thời gian ngắn (tùy thuộc vào quy định của mỗi nước về số ngày cư trú tại quốc gia mình) nên để thuận lợi cho việc quản lý cũng như tạo điều kiện cho người nộp thuế dễ dàng trong việc tính thuế, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước sẽ được áp dụng các quy định tính thuế đơn giản và mang tính ngắn hạn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở đối tượng chịu thuế căn cứ tính thuế thường được chia thành 6 nhóm chính: - Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh; - Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn; - Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp; - Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; - Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; - Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, thừa kế, quà tặng, trúng thưởng.
Mỗi hoạt động kinh doanh sẽ có cách thức khác nhau để tiến hành và tạo lập ra thu nhập. Đồng thời để tạo ra thu nhập đó cũng đòi hỏi những chi phí đi kèm khác nhau. Có những nguồn thu nhập mang tính thường xuyên: thu nhập từ hoạt động kinh doanh, thu nhập từ tiền lương tiền công…Tuy nhiên cũng có những thu nhập chỉ mang tính chất từng lần, tạm thời: thu nhập từ tặng cho, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, góp vốn… Do vậy, việc phân loại các căn cứ tính thuế theo đối tượng chịu thuế sẽ giúp cho nhà làm luật đưa ra những quy định chính xác hơn trong việc xác định thu nhập tính thuế cũng như áp dụng các mức thuế suất khác nhau sao cho vừa đáp ứng được nguồn thu cho Nhà nước đồng thời cũng khuyến khích người dân tích cực tạo lập thu nhập mới. Hiện nay trên thế giới mỗi quốc gia lại có cách phân loại căn cứ tính thuế khác nhau căn cứ vào đối tượng chịu thuế, cụ thể: Theo Luật thuế TNCN Trung Quốc, căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân bao gồm các loại: căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền công, tiền lương; Thu nhập từ sản xuất kinh doanh; Thu nhập về cho thuê tài sản; Thu nhập về chuyển nhượng tài sản; Thu nhập từ kinh doanh chứng khoán; Thù lao dịch vụ; Thu nhập từ nhuận bút; Thu nhập về chi phí sử dụng quyền đặc biệt; Thu nhập về lãi cho vay, cổ tức, hoa hồng; Thu nhập ngẫu nhiên; Thu nhập khác.[3] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, tại Philippin các căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân ở gồm: căn cứ tính thuế đối với phí dịch vụ được chi trả dưới bất kỳ hình thức nào; thu nhập thu được từ việc thực hiện kinh doanh; Lãi buôn bán tài sản; Lãi tiền vay; tiền cho thuê; Tiền bản quyền; Cổ tức; Tiền trợ cấp hàng năm; Phần thưởng và tiền thưởng; Tiền lương hưu; Khoản phân chia từ thu nhập ròng của công ty hợp danh chuyên nghiệp chung cho người vay vốn.
[3] Các căn cứ tính thế TNCN của Nhật Bản gồm 10 loại chính: căn cứ tính thuế từ thu nhập từ công việc lao động; Thu nhập từ hoạt động kinh doanh; Thu nhập do buôn bán bất động sản; Thu nhập từ tiền lãi cổ phần; Thu nhập từ lợi tức; Thu nhập từ các khoản hưu trí; Thu nhập từ buôn bán gỗ; Thu nhập từ các khoản vốn; Thu nhập bất thường; Thu nhập khác. [3] Căn cứ vào nguồn thu thực tế của nước mình mà mỗi quốc gia đã phân loại ra các căn cứ tính thuế khác nhau tương ứng với từng đối tượng chịu thuế. Việc phân loại cũng như đưa ra quy định về căn cứ tính thuế của mỗi quốc gia không chỉ giúp cho việc quản lý diễn ra dễ dàng mà đồng thời còn cho thấy thái độ và chính sách xã hội của Nhà nước dành cho hoạt động đó trên lãnh thổ quốc gia mình. Yếu tố cấu thành căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân Hai yếu tố cấu thành căn cứ tính thuế TNCN bao gồm: thu nhập tính thuế và thuế suất.
* Thu nhập tính thuế Thu nhập tính thuế là một đại lượng dùng để chỉ tổng thu nhập chịu thuế khi đã trừ đi các khoản giảm trừ và các chi hợp lý dùng để tạo lập nên nguồn thu nhập đó. Tùy theo trình độ quản lý của hệ thống thuế của từng quốc gia, hiện nay trên thế giới tồn tại hai cách thức xác định thu nhập để tính thuế TNCN. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.