Luận Văn Thạc Sĩ Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XVIII Đầu XIX: Nghiên Cứu Về Vấn Đề Cái Chết

Luận văn thạc sĩ văn học phân tích văn học việt nam thế kỷ xviii đầu thế xix với vấn đề cái chết, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ
106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận Văn Thạc Sĩ Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XVIII XIX Khám Phá Vấn Đề Cái Chết

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc khám phá vấn đề cái chết trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX. Đây là giai đoạn văn học đạt đến đỉnh cao với những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là sự khẳng định cuộc sống trần thế và đề cao tình cảm cá nhân. Vấn đề cái chết được thể hiện qua nhiều tác phẩm văn học, phản ánh sự thay đổi trong tư tưởng và quan niệm của các tác giả. Nghiên cứu văn học này nhằm làm sáng tỏ những giá trị văn hóa và tư tưởng ẩn chứa trong các tác phẩm, đồng thời góp phần hiểu sâu hơn về di sản văn học của dân tộc.

1.1. Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XVIII - XIX là thời kỳ văn học Việt Nam đạt đến đỉnh cao với những thành tựu rực rỡ. Vấn đề cái chết được thể hiện qua nhiều tác phẩm, phản ánh sự thay đổi trong tư tưởng và quan niệm của các tác giả. Nghiên cứu văn học này nhằm làm sáng tỏ những giá trị văn hóa và tư tưởng ẩn chứa trong các tác phẩm, đồng thời góp phần hiểu sâu hơn về di sản văn học của dân tộc.

1.2. Lịch sử vấn đề

Vấn đề cái chết trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX chưa được nghiên cứu một cách toàn diện. Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào trào lưu nhân đạo chủ nghĩa, trong khi vấn đề cái chết chỉ được đề cập một cách gián tiếp. Nghiên cứu văn học này sẽ đi sâu vào phân tích các tác phẩm, thể loại viết về cái chết, từ đó làm rõ sự thay đổi trong quan niệm và thái độ của các tác giả.

II. Vấn Đề Cái Chết Trong Lịch Sử Tư Tưởng Văn Hóa Phương Đông

Chương này khái quát vấn đề cái chết trong lịch sử tư tưởng văn hóa phương Đông, bao gồm Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Nho giáo đề cao tư tưởng 'xả thân thủ nghĩa', coi cái chết là sự hy sinh vì đạo lý. Phật giáo nhìn nhận cái chết như một phần của vòng luân hồi, khuyến khích sự giác ngộ và giải thoát. Đạo giáo quan niệm 'tề sinh tử', coi sống và chết là hai mặt của một thực thể. Những tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX.

2.1. Nho giáo và tư tưởng xả thân thủ nghĩa

Nho giáo đề cao tư tưởng 'xả thân thủ nghĩa', coi cái chết là sự hy sinh vì đạo lý. Tư tưởng này được thể hiện rõ trong các tác phẩm văn học trung đại, nơi các nhân vật sẵn sàng chết để bảo vệ danh dự và đạo đức.

2.2. Phật giáo và cái nhìn liễu sinh tử

Phật giáo nhìn nhận cái chết như một phần của vòng luân hồi, khuyến khích sự giác ngộ và giải thoát. Quan niệm này ảnh hưởng đến thái độ ung dung, điềm tĩnh trước cái chết trong văn học Việt Nam.

2.3. Đạo giáo và quan niệm tề sinh tử

Đạo giáo quan niệm 'tề sinh tử', coi sống và chết là hai mặt của một thực thể. Tư tưởng này góp phần hình thành cái nhìn thoải mái, không sợ hãi trước cái chết trong văn học Việt Nam.

III. Khái Lược Vấn Đề Cái Chết Trong Văn Học Việt Nam Trước Thế Kỷ XVIII

Chương này khái quát vấn đề cái chết trong văn học Việt Nam trước thế kỷ XVIII. Các tác phẩm thơ Thiền sư thể hiện thái độ ung dung, điềm tĩnh trước cái chết, thấm nhuần quan niệm thân xác là huyễn ảo. Thơ văn nhà nho ca ngợi những tấm gương trung thần tiết nghĩa, sẵn sàng chết vì nghĩa lớn. Những tác phẩm này phản ánh quan niệm truyền thống về cái chết, coi đó là sự hy sinh vì đạo lý và danh dự.

3.1. Thơ Thiền sư Thái độ ung dung điềm tĩnh trước cái chết

Các tác phẩm thơ Thiền sư thể hiện thái độ ung dung, điềm tĩnh trước cái chết, thấm nhuần quan niệm thân xác là huyễn ảo. Đây là sự ảnh hưởng sâu sắc từ Phật giáo.

3.2. Thơ văn nhà nho Sẵn sàng chết để bảo toàn nghĩa lớn

Thơ văn nhà nho ca ngợi những tấm gương trung thần tiết nghĩa, sẵn sàng chết vì nghĩa lớn. Đây là sự thể hiện của tư tưởng 'xả thân thủ nghĩa' trong Nho giáo.

IV. Sự Phân Hóa Quan Niệm Về Vấn Đề Cái Chết Trong Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XVIII Đầu XIX

Chương này phân tích sự phân hóa quan niệm về vấn đề cái chết trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - đầu XIX. Các tác phẩm tiếp tục cái nhìn duy lý về cái chết, đồng thời xuất hiện cái nhìn chủ tình, thể hiện tiếng khóc tình riêng ly biệt và đồng cảm thương thân bạc mệnh. Sự thay đổi này phản ánh sự đề cao quyền sống và quyền được hạnh phúc của con người trong cuộc sống thực tại.

4.1. Tiếp tục cái nhìn duy lý về vấn đề cái chết

Các tác phẩm tiếp tục cái nhìn duy lý về cái chết, coi đó là sự hy sinh vì đạo lý và danh dự. Đây là sự kế thừa từ quan niệm truyền thống trong Nho giáo.

4.2. Cái nhìn chủ tình về vấn đề cái chết

Các tác phẩm xuất hiện cái nhìn chủ tình, thể hiện tiếng khóc tình riêng ly biệt và đồng cảm thương thân bạc mệnh. Sự thay đổi này phản ánh sự đề cao quyền sống và quyền được hạnh phúc của con người trong cuộc sống thực tại.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ văn học việt nam thế kỷ xviii đầu thế xix với vấn đề cái chết

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu, cấu trúc luận văn gồm có ba chƣơng chính: Chƣơng 1. VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG VĂN HÓA PHƢƠNG ĐÔNG. KHÁI LƢỢC VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƢỚC THẾ KỶ XVIII. SỰ PHÂN HÓA QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII – ĐẦU XIX.

Tổng kết phần chính văn còn có phần Kết luận. Cuối luận văn là phần Danh mục tài liệu tham khảo. PHẦN NỘI DUNG. VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG 10 VĂN HÓA PHƢƠNG ĐÔNG.

Vấn đề cái chết trong lịch sử tƣ tƣởng văn hóa phƣơng Đông nhìn từ thế ứng xử với thân xác. Cái chết đối với con ngƣời luôn là một điều bí mật, không thể trải nghiệm. Con ngƣời tìm kiếm câu trả lời cho sự tồn tại của mình, cho một thực tế không thể thay đổi: phải chứng kiến hàng ngày những đứa trẻ đƣợc sinh ra, và cũng có những ngƣời chấm dứt sự sống của mình. Cũng từ đó mà nảy sinh ra những quan niệm về ý nghĩa của sự sống và sự chết.

Những tôn giáo, học thuyết, tƣ tƣởng lớn của nhân loại đều có cách luận giải của mình. Con ngƣời là một thực thể sống có thể xác và tinh thần, tình cảm; mà ngƣời xƣa gọi là Thân và Tâm. Con ngƣời hiện diện trong cuộc đời này, biểu lộ Tâm của mình không cách gì khác chính là bằng thân xác. Thân xác là hữu thể cho phép con ngƣời có mặt trên đời đích thực và hiển nhiên với tƣ cách là “con ngƣời” theo đúng nghĩa.

Bằng thân xác của mình, con ngƣời “dự định, ước muốn, hành động, và bày tỏ, biểu lộ ý nghĩ, tình cảm, thực hiện những quan hệ với thế giới sinh vật và những quan hệ giao ngộ với người khác” 1. Thân biểu hiện phần bản năng của con ngƣời, mà trong đó sống – chết là một trong những bản năng mạnh mẽ nhất. Những học thuyết, tƣ tƣởng lớn ở phƣơng Đông nhƣ Nho – Phật – Đạo đều hƣớng tới xây dựng mẫu hình con ngƣời lý tƣởng. Hòng đạt tới những mẫu hình lý tƣởng đó, thân xác với tƣ cách là phần biểu hiện bản năng của con ngƣời, trong quan niệm của các tƣ tƣởng cổ trung đại, cần phải bị kiểm 1 Nguyễn Văn Trung, Ca tụng thân xác, Nxb.

Trí thức Việt Nam thời trung đại chịu ảnh hƣởng sâu sắc của những quan niệm khắc kỉ với thân xác trong những học thuyết này. Cùng với sự đối xử khắc nghiệt với thân xác, Tâm đƣợc hết thảy các học thuyết đề cao, đƣợc coi nhƣ là yếu tố quyết định cuộc sống của mỗi ngƣời, cũng quyết định thái độ của con ngƣời trƣớc cái chết. Nho giáo và tƣ tƣởng “sát thân thành nhân” – “xả thân thủ nghĩa”. Nho giáo là một trong những tƣ tƣởng, học thuyết có ảnh hƣởng mạnh mẽ và sâu sắc nhất trong lịch sử trung đại khu vực Đông Á, trong đó có Việt Nam.

Mẫu hình lý tƣởng của các nhà Nho là bậc “thánh nhân - quân tử”. Để đạt tới mẫu hình đó, nhà nho cũng nhƣ tất cả mọi ngƣời trong xã hội “từ thiên tử tới thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm gốc” (Đại học). “Tu thân”, “tu kỉ trị nhân” chính là rèn luyện bản thân, mà theo quan niệm của Nho gia thì phải thực hiện với những hình thức rất nghiêm khắc, trƣớc nhất chính là đòi hỏi sự khắc kỉ đối với thân xác: “tồn thiên lý, khử nhân dục” (bảo tồn thiên lí, diệt dục vọng bản năng). Để làm đƣợc điều đó, nhà nho phải rèn cách “dĩ tâm khống thân” (dùng ý chí khống chế dục vọng bản năng).

Cho nên Khổng Tử mới nói: quân tử ăn không cầu ngon, ở không cầu yên vui (Quân tử, thực vô cầu bão, cƣ vô cầu an – Luận ngữ, Học nhi). Đƣợc nhƣ vậy rồi thì: “Phạn sơ tự, ẩm thủy, khúc quãng nhi chẩm chi, lạc diệc tại kỳ trung hĩ. Bất nghĩa như phú thả quý, ư ngã như phù vân” (Ăn gạo xấu, uống nƣớc lã, co cánh tay mà gối đầu, trong cảnh đó cũng có cái vui. Làm điều bất nghĩa mà đƣợc giàu sang thì ta coi nhƣ mây nổi – Luận ngữ, Thuật nhi).

Sự khổ ải của thể xác ở đây không có ý nghĩa gì so với việc bảo vệ đạo lý, thực hành điều nhân nghĩa. Cũng xuất phát từ quan niệm đạo đức làm ngƣời của nho giáo, coi hiếu đạo là nền tảng đạo đức của một ngƣời có “nhân”, Nho giáo dạy ngƣời ta phải biết trọng thân, quý thân mình vì thân xác đó là do cha mẹ ban cho. Trong 12 sách Hiếu kinh có ghi: “ (…) thân thể tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám tổn thƣơng đó là khởi đầu của hiếu. Lập thân hành đạo, dƣơng danh với hậu thế, để làm rạng rỡ cha mẹ, đó là kết cục của hiếu.

Xét về hiếu, khởi đầu là lo việc song thân, kế đến là việc vua tôi, sau cùng mới đến việc lập thân” – cũng cho thấy một sự thực rằng nho gia quan niệm việc gìn giữ thân thể, trân trọng thân thể của mình cũng chính là để bảo toàn đạo hiếu, giữ gìn nền tảng đạo đức của ngƣời quân tử, lập thân hành đạo chứ không xuất phát từ nguyên giá trị của thân xác. Điều này cũng giúp chúng ta hiểu đƣợc một phần quan niệm về cái chết toàn thây của nho gia. Chuyện Tăng Tử trƣớc khi chết bảo học trò xem thân thể của mình, thấy nguyên vẹn thì thanh thản vì đã tránh đƣợc tội bất hiếu, là một dẫn chứng cho thấy mối quan tâm của nhà nho trƣớc khi chết. Đó không phải là nỗi băn khoăn chỗ chết rồi sẽ đi về đâu, cuộc sống sau khi chết sẽ ra sao, mà là cuộc đời đã trải qua có tỳ vết gì không, có tội lỗi gì không, có toàn vẹn để gặp cha mẹ tổ tiên hay không?.

Lúc này ta không bắt gặp đƣợc tâm thế của một con ngƣời thông thƣờng trƣớc cái chết, vốn là nỗi sợ hãi và bi thƣơng sẽ không còn đƣợc sống trên cõi đời này nữa. Tâm thế của nhà nho trƣớc cái chết là nỗi lo lắng về việc mình có giữ đƣợc đạo nghĩa, có làm tròn đƣợc trách nhiệm của mình hay không. Chính vì thế, cái chết không toàn thây là hình phạt đau đớn và khổ nhục nhất đối với nhà nho. Các hình phạt thời trung đại đều nhằm vào thân thể kẻ có tội, đƣợc giới cầm quyền sử dụng nhƣ cách thức chế ngự và củng cố lòng trung thành của kẻ dƣới.

Tàn khốc nhất là những hình thức tra tấn đến chết làm thể xác không còn nguyên vẹn nhƣ tùng xẻo, ngũ mã phanh thây, chặt đầu… trở thành nỗi răn đe đầy ám ảnh đối với nhà nho. Quan niệm trọng tâm nhất trong học thuyết Nho giáo chính là chữ Nhân. Đối với nhà nho, đạo Nhân phải đƣợc đặt lên trên chuyện giàu nghèo, đặt lên trên những cám dỗ của tình ái, và đặc biệt, phải đƣợc đặt lên trên 13 chuyện sống chết của bản thân. Ý nghĩa căn bản nhất của chữ Nhân là hy sinh cái tôi nhỏ để hoàn thiện cái tôi lớn hơn, để đạt tới hình mẫu con ngƣời mẫu mực của Nho giáo: “là con ngƣời vô kỷ, vị tha, lúc cần thiết có thể chịu đựng và phải chịu đựng đƣợc mọi sự ma chiết của hoàn cảnh, đến mức cao nhất, hoặc do tình huống đòi hỏi, phải sát thân thành nhân, xả thân thủ nghĩa”2.

Khổng Tử nhấn mạnh: “Chí sĩ nhân nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân, vô cầu sinh dĩ hại thân” (Luận ngữ, Vệ linh công). Nghĩa là: bậc chí sĩ ngƣời có đạo Nhân là những ngƣời không ham sống mà sợ chết, khi cần thiết, phải tự mình chết để bảo toàn đạo Nhân. Kế thừa những học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử tiếp tục nói rõ thêm về “chết vì đạo đức nhân nghĩa”, đó là “xả thân thủ nghĩa” (xả thân để bảo vệ nghĩa lớn). Mạnh Tử nói: “Sinh diệc ngã sở cầu dã, nghĩa diệc ngã sở cầu dã, nhị giả bất khả đắc kiêm, xả thân nhi cử nghĩa giả dã”, nghĩa là: sinh mệnh là cái bản thân ta muốn gìn giữ; chính nghĩa cũng là điều bản thân ta muốn gìn giữ, nhƣng trong trƣờng hợp sinh mệnh và chính nghĩa không thể đồng thời đƣợc bảo toàn, phải hy sinh sinh mệnh của mình để bảo toàn chính nghĩa.

Quan niệm này của Nho gia có thể khái quát trong câu “Sát thân thành nhân” – dù tính mệnh là quý nhất, nhƣng vì đại nghĩa mà hy sinh nó thì mới là nhân vậy. Nho gia có tƣ tƣởng “trọng thân”, coi thân là gốc (thân vi bản) nhƣng lại mang nghĩa là coi trọng tu thân, đề cao vai trò của tâm - ý chí chứ không có ý đề cao thân xác bản năng của con ngƣời. Đúng nhƣ NNC Trần Nho Thìn đã nhận định: “Khắc kỉ và sẵn sàng chết khi cần thiết để bảo vệ đạo Nhân, đặt các giá trị luân lí đạo đức cao hơn giá trị của thân xác là mô hình lí tƣởng của nhà nho” 3. 2 Trần Ngọc Vƣơng, Nhà nho tài tử và Văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1995, tr.

3 Trần Nho Thìn, Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 14 Cái chết vì nhân nghĩa đƣợc các nhà Nho đề cao, những tấm gƣơng xả thân vì nghĩa lớn theo quan niệm của Nho giáo đƣợc lƣu truyền trong sử sách. Chết vì đạo nghĩa đã trở thành những câu cách ngôn trong sự nghiệp lập thân của các nhà nho, cũng nhƣ là lời cảnh tỉnh với ngƣời khác khi đối diện với cái chết. Coi “sát thân thành nhân”, “xả thân thủ nghĩa” là điều tâm niệm, Nho gia đánh giá nhân cách ngƣời quân tử nhận trọng trách trong lúc nguy nan cũng giống nhân cách ngƣời quân tử tranh đấu cho đến lúc chết, liều chết mà can gián.

Nhân cách ngƣời quân tử có giá trị hơn giá trị của sinh mệnh nhiều lần. Có vô số nhân sĩ chết vì điều nhân và xả thân vì đại nghĩa, đƣợc nhắc tới nhƣ những tấm gƣơng sáng cho muôn đời. Nhƣ ba nhân sĩ thời Ân: Bỉ Cán bị xử tội chết vì dám can gián, Vi Tử dở điên dở dại trôi giạt nơi nhân gian, Cơ Tử bị giam cầm rồi trở thành nô lệ - đều đƣợc Khổng Tử khen là bậc nhân (Xem Luận ngữ, Vi tử). Đối với nho gia, nỗi đau đớn của thể xác không có gì đáng kể, cái chết của thân nhục thể không có gì đáng tiếc nếu đó là sự hy sinh vì đạo nghĩa, khi đó thân danh tiết mới để lại tiếng thơm cho muôn đời sau.

Lập công danh, bảo tồn đạo lý chính nghĩa là mục đích của đời ngƣời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XVIII - XIX: Khám Phá Vấn Đề Cái Chết là một nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề cái chết trong văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX. Tài liệu này không chỉ phân tích cách thức cái chết được thể hiện qua các tác phẩm văn học mà còn khám phá ý nghĩa văn hóa, triết lý và tâm linh đằng sau nó. Độc giả sẽ được tiếp cận với những góc nhìn đa chiều, từ tâm lý con người đến bối cảnh lịch sử, xã hội, giúp hiểu sâu hơn về tư duy và cảm xúc của người Việt trong giai đoạn này.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến văn học Việt Nam, hãy khám phá thêm Luận Văn Thạc Sĩ Văn Học Việt Nam Hiện Đại: Đặc Điểm Hồi Ký Của Các Nhà Thơ Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu để hiểu rõ hơn về thể loại hồi ký và phong cách sáng tác của các nhà thơ nổi tiếng. Bên cạnh đó, Luận Văn Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Học: Ngôn Ngữ Biểu Thị Các Cung Bậc Tình Cảm Và Ảo Mộng Tình Yêu Trong Mê Hồn Ca Và Đường Vào Tình Sử Của Đinh Hùng sẽ mang đến những phân tích sâu sắc về ngôn ngữ và cảm xúc trong thơ ca. Cuối cùng, Luận Văn Thạc Sĩ Tính Đối Thoại Trong Truyện Ngắn Nguyễn Minh Châu Sau 1975 sẽ giúp bạn khám phá cách thức đối thoại được sử dụng để phản ánh tư tưởng và xã hội trong văn học hiện đại. Mỗi tài liệu là một cánh cửa mở ra những góc nhìn mới, giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về văn học Việt Nam.