Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ Không phải ngẫu nhiên truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình và độc giả từ khi những sáng tác đầu tay của nhà văn xuất hiện trên văn đàn miền Nam những năm 60 của thế kỷ trước. Và cho đến hôm nay, sự trở lại của Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng gây được sự chú ý của độc giả. Để làm sáng tỏ những đặc điểm làm nên dấu ấn sáng tác Nguyễn Thị Thụy Vũ trong truyện ngắn, cần thấy ba yếu tố sau đây làm tiền đề cho sáng tác của nhà văn. Truyền thống văn học Nam Bộ: phản ánh đời sống hiện thực đang diễn ra, đáp ứng nhu cầu của công chúng độc giả Văn học Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975 là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc.
Trong khoảng hơn hai mươi năm, vùng văn học này đã có một đời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và hàng nghìn tác phẩm, cuốn hút hàng triệu độc giả, và đã để lại những vết son không phai mờ trong ký ức của nhiều người. Nhắc đến văn học Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975, chúng ta nghĩ đến một thế hệ nhà văn tiên phong cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mang những đặc điểm mới mẻ, khác với những nhà văn lớp trước trên nhiều phương diện, làm thay đổi diện mạo văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Nam Bộ vốn là vùng đất mới của tổ quốc. Khác với các vùng miền khác trong cả nước, thực dân Pháp đã áp đặt sự cai trị nhằm biến vùng đất phía Nam của tổ quốc thành thuộc địa hải ngoại của Pháp.
Với quy chế thuộc địa của người Pháp áp dụng ở cho Nam Kì thì tự do dân chủ được mở rộng hơn so với chính sách cai trị của thực dân Pháp ở miền Bắc và miền Trung. Thêm vào đó, cư dân Nam Bộ với điều kiện tự nhiên thuận lợi, sông ngòi chằng chịt, thiên nhiên ưu đãi đã hình thành nên tính cách cởi mở, dễ học hỏi, tiếp thu cái mới từ phương Tây. Chính điều đó cũng góp phần hình thành nên một đội ngũ trí thức ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây, có tư duy mới mẻ không chỉ ở phương diện chính trị mà còn trên lĩnh vực văn hóa, văn học. Cùng với chữ quốc ngữ, sự ra đời của các tờ báo, tạp chí, nhà xuất bản cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà văn Nam Bộ có sự đổi mới mạnh mẽ cả về phương diện nội dung và nghệ thuật.
Ngay từ năm 1865 Nam Bộ đã có tờ báo quốc ngữ đầu tiên là 10 tờ Gia Định báo. Đến giai đoạn 1954 – 1975, báo chí ở Nam Bộ nở rộ. Cùng với báo chí, sự ra đời của nhiều nhà xuất bản, phát hành ở miền Nam cũng đã góp phần tạo nên sự phát triển cho đời sống văn hóa, văn học ở khu vực này. Sự ra đời của các tờ báo là phương tiện để các nhà văn thể hiện tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm, cách đánh giá, thông qua các tác phẩm của mình.
“Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ ngạc nhiên thấy những người phu xe xích lô Sàigòn, buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi, ngồi gác chân đọc nhật trình, việc không thể có ở ngoài Bắc. Sở dĩ có hiện tượng này bởi vì miền Nam có truyền thống đọc sách báo của người bình dân mà ở ngoài Bắc không có; bởi miền Nam đã là vùng đất của quốc ngữ và báo chí, tiểu thuyết, ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khiến nền văn chương bình dân phát triển mạnh ở trong Nam, trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học” (Thụy Khuê, 2007). Trong suốt mười thế kỉ văn học trung đại, văn học Việt Nam nói chung và về sau là văn học Nam Bộ nói riêng chịu ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc một cách sâu sắc cả về nội dung và nghệ thuật. Văn học đồng thời cũng mang những đặc trưng nổi bật của văn chương Trung Quốc như “thi ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo”.
Về phương diện nội dung, văn học là để giáo huấn, để treo gương, khuyến thiện trừng ác, di dưỡng tính tình. Nguyễn Bỉnh Khiêm trong Bài tựa Bạch Vân am thi tập từng viết: “Mỗi khi nhàn rỗi giây lát, cao hứng ngâm vịnh hoặc ca ngợi thắng cảnh núi sông, hoặc tán dương vẻ đẹp của hoa trúc, hoặc tức cảnh mà ngụ ý, hoặc cảm việc mà tự thuật, đều ghi lấy cái chí của mình” (Nguyễn Khuê, 1997). Nguyễn Dữ trong tác phẩm Truyền kì mạn lục đã kể cho chúng ta nghe nhiều câu chuyện về người, về yêu quái, về cõi dương, cõi âm, về những câu chuyện tình yêu… Mỗi câu chuyện đều có lời bình ở cuối truyện để nêu gương, khuyến khích cái thiện, để đấu tranh chống lại cái ác. Kể xong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, ông nhắc nhở: “Than ôi! Người ta thường nói: "Cứng quá thì gãy".
Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời. Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm? Ngô Tử Văn là một anh chàng áo vải.Vì cứng cỏi mà dám đốt cháy đền tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người. Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị ở Minh ti, thật là xứng đáng.Vậy 11 kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi”. Hay trong Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Nguyễn Dữ cũng đưa ra lời bình: “Thế thì câu chuyện Xương Giang, chẳng phải là quái.
Phương chi xem thấy yêu nữ mê người sẽ biết răn sợ trước sắc đẹp, xem thấy linh từ xử án, sẽ biết kính tránh trước thần thiêng. Nghi để truyền nghi, chẳng có gì là quá đáng” (Nguyễn Dữ, 1988). Về phương diện nghệ thuật, văn học trung đại thường có tính quy phạm, niêm luật chặt chẽ, dùng nhiều biện pháp nghệ thuật như ước lệ tượng trưng, điển cố, điển tích… Vì vậy để đọc, để hiểu được văn học phải là người trí thức, am hiểu đạo Nho, am hiểu về Hán học. Trong văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, quan niệm về văn chương của các nhà văn hoàn toàn khác biệt.
Văn chương hướng vào đông đảo quần chúng. Chẳng hạn, trong văn học dịch, các nhà văn Nam Bộ đã chú ý đến việc chuyển đổi các tác phẩm văn học phương Tây và Trung Quốc sang chữ quốc ngữ dưới các hình thức của các thể thơ dân tộc hay truyện ngắn để phù hợp với thẩm mĩ hay tập quán của người Việt. Ngôn ngữ trong các tác phẩm dịch ấy thường mộc mạc, gần gũi với tầng lớp bình dân. Thậm chí tên gọi của các nhân vật trong các tác phẩm ấy cũng được Việt hóa để phù hợp với văn hóa Việt.
Các dẫn chứng trên cho thấy đối tượng mà nhà văn Nam Bộ hướng tới là độc giả bình dân, những người không biết, không thông thạo ngoại ngữ. Đối tượng phản ánh của văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thể hiện sự cách tân, khác hẳn văn học trung đại. Nhân vật không mang tính ước lệ, tượng trưng, lí tưởng hóa như văn học trung đại mà là những con người rất đời thường, họ sống, đi lại, buồn, vui gắn với mọi sinh hoạt của con người trong xã hội hiện tại. Nguyễn Trọng Quản chủ trương viết về những “truyện đời này là sự thường có trước mặt ta luôn”.
Điều này thể hiện ý thức dân chủ của nhà văn.Truyện thầy Lazaro Phiền kể về cuộc đời thăng trầm của kẻ có đạo. Trong truyện, Nguyễn Trọng Quản không xây dựng nhân vật thầy Phiền theo hướng lí tưởng hóa, mang cái đẹp cao cả để giáo huấn, để nêu gương mà thầy Phiền hiện lên với những nét tính cách rất đời thường. Nhân vật thầy Phiền mang trong mình cả những cái cao cả và cái thấp hèn, con người lương thiện lẫn tàn ác, con người điềm đạm lẫn quyết liệt, dứt khoát, con người giàu lòng yêu 12 thương lẫn nhẫn tâm. Bản tính thầy là một người lương thiện dù được sinh ra trong hoàn cảnh éo le, khốn khó: mẹ chết khi lên ba, bố chết khi thầy được 14 tuổi, chưa có một sự khổ cực nào mà thầy chưa phải trải qua để tồn tại.
Tuy nhiên những hành động của thầy Phiền như: giết chết người bạn thân nhất của mình - thầy Liễu - vì cho rằng thầy ta có tư tình với vợ mình, sau đó chuốc thuốc độc cho vợ chết dần…cho ta thấy ghen tuông đã làm cho phần con thắng thế phần người trong thầy - đây cũng là một đặc điểm rất đời của nhân vật thầy Phiền. Hay truyện một thầy giáo trường tư siêng năng, thương vợ thương con nhưng vì ham vui mà bỏ bê vợ con dẫn đến cái chết đầy thương tâm của vợ (Ôi! Ái tình – Công Bình)… Những chuyện đời thường, gần gũi đã trở thành đề tài chính trong các sáng tác bằng văn xuôi của các nhà văn Nam Bộ như Nguyễn Trọng Quản, Trần Quang Nghiệp, Sơn Vương, Bửu Đình,v. Những tác phẩm văn học Nam Bộ trong thời kỳ này cũng hướng vào đề tài rất mới là đời sống cá nhân con người. Dù viết về bất cứ đề tài nào dù là tình yêu đôi lứa, tình nghĩa bạn bè, chuyện đời hay chuyện đạo… thì đời sống cá nhân, nhân phẩm, khát khao tự do hay hạnh phúc… cũng luôn được nhắc đến.
Đồng thời, con người Nam Bộ với tính cách cởi mở, dễ tiếp cận cái mới, cách sống, lối cảm, lối nghĩ ảnh hưởng của phương Tây nên dễ dàng tiếp thu kỹ thuật viết truyện của phương Tây nhưng vẫn lưu giữ được truyền thống đạo lý phương Đông. Hướng khai thác đề tài gắn với đời sống con người Nam Bộ, “đưa tiểu thuyết về với cuộc đời thực và viết bằng lời văn thông tục” (Nguyễn Huệ Chi, 2004) như đã nói trở thành nét riêng, đặc trưng cho đường hướng tiếp cận hiện thực được các nhà văn thuộc thế hệ tiên phong như Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoàng Mưu, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt,v. Đến Hồ Biểu Chánh, sự cách tân văn học đã lan rộng ra miền Trung, rồi miền Bắc nhưng độc giả Nam Bộ vẫn ưa đọc Hồ Biểu Chánh. Thực tế sáng tác và tiếp nhận văn học của độc giả Nam Bộ cho thấy: Văn học quốc ngữ Nam Bộ là nơi khởi đầu nền văn học hiện đại Việt Nam đồng thời là vùng văn học được định hình với quan niệm văn học hướng về cuộc sống hàng ngày, viết về những “truyện đời này là sự thường có trước mặt ta luôn” (Nguyễn Trọng Quản), sáng tác của nhà văn hướng về công chúng độc giả.