Chương 1: LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP – NHÌN TỪ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT 1.Lời văn nghệ thuật 1.Khái niệm Lời văn nghệ thuật được chú ý khi nghiên cứu một tác phẩm văn học hay một phong cách tác giả. Để làm rõ khái niệm này, chúng ta cần phân biệt nó với các khái niệm tương đồng như: ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn từ nghệ thuật, ngôn ngữ văn học. Ở một số trường hợp, chúng có thể dùng để thay thế cho nhau nhưng chúng hoàn toàn không đồng nhất. Ngôn ngữ nghệ thuật là “hệ thống các phương thức, phương tiện tạo hình, biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật”[60; 185].
Thuật ngữ này dùng chung cho mọi ngành nghệ thuật. Trong sáng tác văn học, nhà văn dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng nghệ thuật. Đây là cơ sở để phân biệt tác phẩm văn học với các loại hình nghệ thuật khác. Về bản chất, ngôn từ có khả năng biểu hiện “nhiều mặt của một hình tượng chủ thể lời nói”[60; 185] như địa vị xã hội, giới tính, quan điểm sống.
Đây chính là khả năng nghệ thuật của ngôn từ. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ và ngôn từ nghệ thuật không hoàn toàn đồng nhất. Khái niệm ngôn từ nghệ thuật được đặt ra để phân biệt với ngôn từ trong đời sống xã hội. Cụ thể, ngôn từ nghệ thuật là chất liệu được nhà văn sáng tạo, tổ chức có dụng ý để xây dựng hình tượng nhằm phản ánh đời sống và thể hiện tư tưởng, quan điểm của mình.
Đó là ngôn ngữ toàn dân được nghệ thuật hóa. Trong sáng tác văn chương, chức năng thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật được đặc biệt lưu ý. Chức năng thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật chính là việc sáng tạo ra “thực tại nghệ thuật, khách thể thẩm mĩ, đồng thời sáng tạo ra bản thân các hình tượng ngôn từ, các biểu tượng nghệ thuật, các hình thức lời thơ, lời văn xuôi nghệ thuật”[79; 210] nhằm thỏa mãn nhu cầu giao tiếp nghệ thuật của nhà văn với độc giả. Như vậy, nếu như ngôn từ nghệ thuật là chất liệu thì lời văn nghệ thuật được xem là thành quả của quá trình lao động sáng tạo của người nghệ sĩ.
Khái niệm lời văn nghệ thuật có nội hàm hẹp hơn so với ngôn từ nghệ thuật. Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, lời văn nghệ thuật là “dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật”[33; 129]. Để hiểu được lời văn nghệ thuật thì cần phải đặt nó trong toàn bộ ngữ cảnh mà văn bản nghệ thuật đó tồn tại. Có thể xem văn học là nghệ thuật diễn ngôn.
Lời văn nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật được cấu thành bởi một hoặc nhiều thành phần diễn ngôn. Các thành phần diễn ngôn trong một tác phẩm văn học như diễn ngôn thơ, diễn ngôn văn xuôi, diễn ngôn trần thuật, diễn ngôn thoại (đối thoại – độc thoại) đều được xem là bộ phận của lời văn nghệ thuật. Nghiên cứu lời văn nghệ thuật trên toàn bộ hệ thống diễn ngôn sẽ cho ta thấy được mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, giữa ngôn ngữ và văn học và giữa tính xã hội của văn học và tính thẩm mĩ nghệ thuật. Lời văn nghệ thuật thực chất là lời nói tự nhiên được nhà văn tổ chức theo quy luật nghệ thuật và nó là bộ phận cơ bản để tạo nên văn bản ngôn từ.Đặc điểm cơ bản của lời văn nghệ thuật Lưu Hiệp viết: “Cái tâm (tinh thần) làm nảy sinh lời văn”[39; 113].
Luận điểm này có thể hiểu rằng: lời văn là hình thức của tác phẩm, gắn bó máu thịt với nội dung, tư tưởng mà nhà văn biểu đạt. Chính vì thế, các đặc điểm của lời văn nghệ trong tác phẩm văn học thường gắn với nội dung mà nhà văn phản ánh cùng với quá trình sáng tạo nghệ thuật.Sự khác nhau giữa lời văn nghệ thuật với lời nói trong đời sống Lời nói là sản phẩm của cá nhân, là sự vận dụng kho tàng ngôn ngữ của từng người trong từng hoàn cảnh cụ thể. Ngôn từ trong tác phẩm là một kiểu lời nói (lời văn) nghệ thuật do nhà văn sáng tạo trên cơ sở sản phẩm xã hội mà ông ta tiếp thu được. Lời văn nghệ thuật chính là đối tượng của sự tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn học.
Ðặc điểm chung của văn học nghệ thuật là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học. Tuy nhiên ngôn ngữ không phải là phương tiện diễn đạt riêng của văn học vì nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống cũng sử dụng ngôn ngữ. Trong văn học, ngôn ngữ là chất liệu, nhà văn sử dụng chất liệu ấy “nhào nặn” thành lời văn.
Lời văn trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật, là thành quả của quá trình lao động sáng tạo của người nghệ sĩ. Nói như Maiacôpxki: Làm thơ/ Chẳng khác gì khai thác/ Chất hiếm radium/ Lấy một gam/ Mất hàng năm lao lực/ Chỉ mỗi một từ/ Có khi mất đứt/ Hàng trăm nghìn/ Tấn quặng xỉn ngôn từ/. Lời văn là một dạng của lời nói, nhưng không phải là lời nói trong giao tiếp thường ngày. Lời nói trong tác phẩm văn học là một dạng thức của ngôn từ được tổ chức theo quy luật nghệ thuật.
Điểm khác nhau cơ bản của lời văn tác phẩm và lời nói trong giao tiếp là: lời nói là phát ngôn được nói ra trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể vì thế nó phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp vào vai giao tiếp… nếu tách khỏi ngữ cảnh thì lời nói trở nên vô nghĩa. Đồng thời, mỗi phát ngôn trong khi nói năng thường không trọn vẹn và đầy đủ nội dung. Người nghe cần phải có sự liên hệ với các thông tin có trước trong cùng một cuộc thoại và ngữ cảnh mà lời nói xuất hiện. Lời văn có tính độc lập hoàn chỉnh trong bản thân nó, là lời nói của muôn đời.
Nguyễn Du viết: “Trăm năm trong cõi người ta; Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” (Truyện Kiều) đã trở thành lời nói của muôn đời. Tiếng kêu của Chí Phèo “Ai cho tao lương thiện!” trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao mãi mãi ám ảnh người đọc bởi đó là hình tượng tiếng kêu thống thiết của con người bị xã hội làm cho tha hóa, không được làm người. Chính vì khác với lời nói hằng ngày, lời văn mang tính cố định. Tính chất cố định mà lời văn nghệ thuật có được là lời văn mang tính hình tượng “mọi hiện tượng, cảnh vật, con người trong văn học đều muốn nói lên bằng lời văn nghệ thuật…về nguyên tắc, lời văn nghệ thuật phục tùng cấu trúc hình tượng của tác phẩm, phục tùng đặc điểm của ý thức nghệ thuật, tư duy nghệ thuật”[33; 130].
Lời văn nghệ thuật chính là lời của thế giới hình tượng, là lời của “một chủ thể tư tưởng thẩm mĩ xã hội có tầm khái quát nhất định”[60; 315]. Vì thế, lời văn nghệ thuật không là một hiện tượng cá biệt, nó trở thành lời nói chung của nhiều người. Từ sự phân biệt ấy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các đặc trưng cơ bản của lời văn nghệ thuật. Đó là lời văn mang tính hình tượng, “là lời của một chủ thể tư tưởng thẩm mĩ xã hội có tầm khái quát nhất định” và tính tổ chức cao.
Tính tổ chức cao nhằm mục đích giải phóng hình tượng của từ, có nghĩa là nó làm cho ranh giới ý nghĩa khái niệm của từ bị xóa nhòa mà nó mang một nét nghĩa khác thông qua sự kết hợp giữa các từ và ngữ cảnh. Ngoài ra, lời văn nghệ thuật còn có tính hàm súc, tính biểu cảm và tính chính xác.Cách thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong tác phẩm Lời văn nghệ thuật là một dạng thức của ngôn từ, được tổ chức theo quy luật nghệ thuật trên những mặt cơ bản như: nội dung, phương pháp, phong cách, thể loại. Để thâm nhập vào tác phẩm, tìm thấy được cái hồn văn mà tác giả gửi gắm bên trong nó, người nghiên cứu văn chương cần phải lí giải được phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật phù hợp với nguyên tắc tư tưởng, thẩm mĩ của nhà văn. Theo Phương Lựu[60; 316], “lời văn nghệ thuật nói chung không bao giờ chỉ thông báo giản đơn các việc xảy ra vời nhân vật, mà còn tái hiện cả một phức hợp quan hệ chủ quan và khách quan trong sự kiện đó” nên lời văn nghệ thuật phải có tính tổ chức cao.
Tính tổ chức cao phải phù hợp với bản chất sáng tạo của văn chương. Nhà văn Nam Cao viết: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có. Bản chất văn chương là sáng tạo nên mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm nghệ thuật có một phương thức tổ chức lời văn riêng.
Nhìn trên tổng thể sáng tác văn học, các nhà lí luận phát hiện ra điểm chung trong cách thức tổ chức lời văn nghệ thuật như sau: Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ thường xây dựng hình tượng dựa trên hai nguyên tắc. Thứ nhất, cụ thể hóa đối tượng miêu tả. Đó là, trong quá trình miêu tả, đánh giá, lí giải, nhà văn phải làm cho đối tương ngày càng cụ thể hơn, gây ấn tương với độc giả. Sự cụ thể hóa phải có định hướng.
Có nghĩa là, nhà văn phải dẫn dắt người đọc từ từ thâm nhập vào bên trong tác phẩm: từ xa đấn gần, từ hiện tượng đến bản chất, từ cuộc đời nhân vật đến hiện tượng đời sống mà nhà văn phản ánh. Thứ hai là nguyên tắc tỉnh lược: trong thơ, sự tỉnh lược tạo nên tính hàm súc. Trong văn tự sự, tỉnh lược là một thủ pháp nghệ thuật có dụng ý của tác giả. Nhà văn cố tình lược bỏ một số phương diện nào đó của đối tượng miêu tả, tạo khoảng lặng để người đọc thâm nhập vào tác phẩm suy ngẫm.
Hai nguyên tắc tổ chức lời văn này không tồn tại độc lập trong từng tác phẩm mà nó đan xen, gắn kết với nhau. Trong hệ hình văn học hậu hiện đại, các nhà văn có sự thay đổi về cách thức tổ chức lời văn. Với quan niệm giải cấu trúc, xóa bỏ trung tâm luận, “lí thuyết hậu hiện đại đề xuất xóa bỏ trung tâm, phân mảnh đại tự sự, hỗn tạp văn học với phi văn học, văn học triết học hóa để biến thành phi văn học. Nó phá bỏ huyền thoại trong các hệ hình cũ.