CHƯƠNG 1. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE VAN HÓA LIÊM CHÍNH 1. Khái niệm văn hóa va khái niệm liêm chính 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là vấn đề rất lớn đã được các nhà triết học trên thế giới nhiều thế hệ nghiên cứu khá bài bản.
Nhiều tư tưởng, công trình của họ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quan niệm cơ bản ở Việt Nam về văn hóa, đến các định hướng nghiên cứu thực tiễn về văn hóa, ứng dụng và phát triển văn hóa trong các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau. Xuất phát từ quan niệm về bản chất của con người và về phương thức xác định bản chất của "tồn tại người" trong triết học Mác, chúng ta có thê đi tới một kết luận rằng, nếu tự nhiên là cái quy định sự tồn tại của con người với tu cách là một thực thể sinh vật, thì văn hóa là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực bản chất người gắn liền với các hoạt động sống của con người. Nói cách khác, văn hóa là sự kết tỉnh năng lực bản chất người trong thế giới các sản phẩm do chính hoạt động con người tao ra, là cái quy định ban chất con người với tư cách là một "sinh vật có tính loài" - là "một thực thể xã hội". Như vậy, văn hóa là khái niệm phản ánh tổng thé sự thé hiện ra và sự phát huy những năng lực ban chất người trong tat cả các dạng thức tồn tại và hoạt động của con người, là sự phản ánh tổng thé các hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn - lịch sử - xã hội của mình.
Tóm lại, quá trình hình thành, phát triển tư tưởng về văn hóa thực sự đã bắt đầu từ rất lâu trong lịch sử nhận thức của nhân loại, các tư tưởng được định hình dựa nhiều vào điều kiện hoạt động thực tiễn của con người ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Từ phương hướng tiếp cận vấn đề bản chất của văn hóa theo quan điểm triết học Mác như đã trình bay ở trên, chúng ta có thé có cách xác định rõ hơn vê nhiêu vân đê khác trong lĩnh vực văn hóa như 18 chức năng của văn hóa; văn hóa và phát triển; giao tiếp văn hóa; sự hình thành nhân cách; tiêu chí phân loại văn hóa; phân biệt khái niệm "văn hóa" với khái niệm "văn minh": những vấn đề bảng giá trị, ban sắc văn hóa,. Bản chất của văn hóa thể hiện qua hoạt động có mục đích của con người trong quá trình cải biến đối tượng tự nhiên. Tính thống nhất về nội dung bên trong của con người và tự nhiên là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của văn hóa và đồng thời là điểm nhấn sâu sắc của nhận thức duy vật biện chứng về quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên.
Từ các nội dung khái quát về văn hóa nêu trên, tác giả thấy răng, dé đưa ra được một khái niệm văn hóa, có rất nhiều cách định nghĩa dựa trên các cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, trong hướng nghiên cứu của luận văn này, theo cách tiếp cận hoạt động, tác giả cho rằng, văn hóa là phương thức hoạt động, hành vi của con người, hay hình thức hoạt động của chính con người, chỉ đạo con người trong mọi hoạt động, bởi văn hóa sinh ra từ hoạt động, sáng tạo của con người và là phương thức sống của con người trong xã hội, chi phối mọi hoạt động của con người trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống. Văn hóa cũng có thé được xem là một quá trình động, không ngừng thay đổi và biến chuyên theo thời gian, vì nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như sự tiễn bộ khoa học và công nghệ, sự thay đôi chính trị, và sự phát triển của xã hội. Khái niém liềm chính Với chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, những giá trị đạo đức truyền thống cao đẹp của nhân dân Việt Nam luôn được đúc kết, gìn giữ qua nhiều thập kỉ, đặc biệt là chế độ tu dưỡng đức liêm chính.
Trong bối cảnh lịch sử văn hóa đó, nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thong Nho giáo, tác động đến tu tưởng, đường lối trị quốc của nha nước Phong kiến Việt Nam. 19 Trong lich sử Việt Nam, có thé cho rang ý niệm về liêm chính đã trở nên đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đầu của thời kỳ Lý - Trần (khoảng thế kỷ I1 đến thế kỷ 14), khi triều đình Lý - Trần đưa ra chính sách "đạo đức thi đua" để khuyến khích các quan lại và dân chúng tuân thủ những giá trị đạo đức cao quý. Sau ngàn năm Bắc thuộc, trong những ngày đầu xây dựng nền độc lập quốc gia, vào thời Lý, vua Ly Thanh Tông đã đặt ra “bổng dưỡng liêm” dé cấp cho các quan chức trông coi việc hình pháp, xét xử, giam giữ. nhằm nuôi dưỡng đức tính liêm chính, trong sạch của quan lại trong bộ máy tư pháp, ngăn chặn nạn hối lộ trong hoạt động chấp pháp.
Có thể kể đến các vi quan nổi tiếng về sự liêm chính thời kì này như Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Nguyễn Công Trứ. Qua các thời kì, các triều đại khác nhau, các chính sách về việc thực thi liêm chính cũng có những thay đổi phù hợp với bối cảnh lịch sử mỗi giai đoạn, nhưng nhìn chung, các quan điểm của nhà nước Phong kiến Việt Nam về phòng chống tham nhũng và liêm chính luôn xác định rõ, chỉ có nâng cao đức liêm chính của đội ngũ quan lại thì mới có thé ngăn ngừa được tình trạng tham nhũng. Nhìn ra bên ngoài, tại Châu Âu, ý niệm văn hóa liêm chính đã xuất hiện và được coi trọng từ rất lâu, trước hết là trong các nên văn hóa Hy Lạp và La Mã cô đại: đạo đức và liêm chính đã được nhiều nhà tư tưởng như Socrates, Plato và Aristotle nghiên cứu và giảng dạy. Tuy nhiên, trong lịch sử châu Âu, ý niệm văn hóa liêm chính đã trở nên đặc biệt quan trọng trong thời kỳ Trung cô (khoảng thế kỷ 5 - 15).
Trong thời kỳ này, các giá trị đạo đức của Kitô giáo đã trở thành một yếu tố quan trọng trong văn hóa châu Âu. Các giáo lý của Kitô giáo như tình yêu thương, sự tha thứ, và liêm chính đã được khuyến khích và xây dựng trên nên tảng của những giá trị tương tự trong văn hóa Hy Lạp cô đại. 20 Đến thời Phục hưng đã có hai nghĩa của từ liêm chính liên quan đến luận văn được đúc rút. Nghĩa thứ nhất được sử dụng bởi Thomas More' vào năm 1633 để biểu thị sự trọn vẹn hoặc toàn vẹn.
Nghĩa thứ hai diễn tả một nguyên tắc đạo đức về tính đúng đắn, cụ thể là sự ngay thăng, trung thực hoặc chân thành. Có lẽ, đây là nghĩa phổ biến nhất của từ này đối với chúng ta ngày nay, nó vẫn mang ý nghĩa của một trong các nguyên tắc đạo đức được nhấn mạnh hang dau. Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về liêm chính, dưới đây tác giả xin trích dẫn một vài định nghĩa tiêu biéu nhất trong số chúng. Theo Ann Nichols-Casebolts, Phó Chủ tịch phụ trách phát triển Văn phòng Nghiên cứu và Đổi mới của Đại học Virginia Commonwealth (tốp 100 trường đại học nghiên cứu hàng đầu ở Mỹ) cho rằng: liêm chính trong nghiên cứu nghĩa là cam kết của cá nhân nhà nghiên cứu hướng đến các tiêu chuẩn thật thà về kiến thức và trách nhiệm cá nhân hàm chứa các tiêu chuẩn về tính tin cậy va hợp pháp [62].
Trong từ điển pháp luật Black’s Law Dictionary, thuật ngữ “integrity” lại được giải thích theo hai nghĩa: (1) “không tham nhũng hoặc không bi mất đi (phải giữ được) tính trong sạch, lành mạnh”, và (2) “đạo đức trong sạch; hay là chất lượng, trạng thái hoặc điều kiện để trở nên trung thực và ngay thăng” [63]. Theo hai học giả nổi tiếng là Michael Jensen và Werner Erhard, liêm chính là thuộc tính của môi trường ứng xử được tạo nên bởi các yếu tố, bao gồm: Chuẩn mực dao đức, đạo lý và các quy phạm pháp luật. Môi trường này mang tinh tổng thé, toàn vẹn, hoàn hảo, không thể bị phá vỡ và giúp tạo ra những giá trị mới hoặc lợi ích cho các bên liên quan [67]. ! Thomas More (1478 — 1535): là một nhà triết học, luật sư, và nha ngoại giao người Anh, được biết đến như là một trong những nhân vật quan trọng của thời kỳ Phục Hưng ở Anh.
Ông sinh ra trong một gia đình giàu có tại London và được đảo tạo tại trường St. Anthony và trường Oxford. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông làm luật sư và trở thành một thành viên của Hội đồng Luật sư London. Năm 1516, ông viết cuốn tiểu thuyết "Utopia", một tác phẩm về một xã hội lý tưởng, mà sau này trở thành một tác phẩm văn học kinh điển.
21 Dưới góc độ pháp lý và xã hội: Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) năm 2019 cũng đưa ra khái niệm liêm chính, theo đó liêm chính là “hành vi và hành động, phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức và luân lý được các cá nhân cũng như các tô chức chấp nhận., tạo ra rào can đối với tham nhũng” [2]. Ở góc độ rộng hơn, theo Tổ chức Kinh tế Hợp tác và Phát triển (OECD), liêm chính là “việc tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực chung” [64], trong hoạt động công vụ, liêm chính là việc tuân thủ các quy tắc, chuan mực chung áp dụng cho hoạt động đó. Từ góc độ này, liêm chính có thé được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau như liêm chính của cá nhân, liêm chính của tập thể, liêm chính của cán bộ công chức, viên chức, người lãnh dao,. Như vậy, liêm chính là đức tính quý giá của con người, thường được xem là một trong các nội hàm của phạm trù đạo đức.
Theo nghĩa phô thông, liêm chính bao gồm “Liêm” và “Chính”, trong đó liêm có nghĩa là trong sạch, không tham lam; còn chính là không tả, thang than và đứng đắn. Liêm chính không chỉ được tiếp cận ở góc độ cá nhân mà còn ở góc độ xã hội, khi được hiểu là việc tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực chung của xã hội. Trong tiếng Việt, êm được giải nghĩa là “không tham lam, trong sạch” [61], chính là “ngay thang, đúng dan, trái với tà”; tựu chung lại có thé hiểu liêm chính là “trong sạch và ngay thang”[47].