Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. Chương 2: Vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học phân hóa Sinh học 8, trung học cơ sở. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.
Trên thế giới Trên thế giới có r t nhiều nhà tâm lý học nhà giáo dục đã thử ứng dụng lí thuyết đa trí tuệ vào quá trình nghiên cứu của mình. Nhà giáo dục Thomas Armstrong đã ứng dụng thành công một phần thuyết đa trí tuệ của H. Gardner vào việc giảng dạy và giáo dục. Ông đã đề xu t chiến lược dạy học cho từng loại trí tuệ, xây dựng môi trường lớp học đa trí tuệ, trường học đa trí tuệ…Armstrong khẳng định :” HS có sự khác biệt về thiên hướng trí tuệ nên GV cần ứng dụng nhiều chiến lược dạy học khác nhau” [1].
Ông đã công bố cuốn sách nổi tiếng như :7 loại hình trí thông minh, bạn thông minh hơn bạn nghĩ, đa trí tuệ trong lớp học…Các cuốn sách này chủ yếu viết về v n đề giáo dục và hướng dẫn cha mẹ giáo dục con cái, giúp giáo viên dạy học theo phương pháp nhằm phát huy năng lực trí tuệ của con em mình. Các tác giả Breaux và Magee, Tomlinson…đều cho rằng cần khơi gợi tiềm năng và tạo điều kiện cho HS được học theo kiểu trí tuệ của mình [18]. Hiện nay thuyết đa trí tuệ không chỉ được nghiên cứu ứng dụng vào dạy học ở Mỹ mà đã lan tỏa khắp các châu lục như Trung Quốc, Philippines, Singapore…đã vận dụng thành công thuyết đa trí tuệ vào mọi c p học [15]. Ở Việt Nam Thuyết đa trí tuệ đã được áp dụng ở r t nhiều nước trên thế giới tuy nhiên ở Việt Nam thì bước đầu mới có một số công trình nghiên cứu, luận văn, bài báo về thuyết đa trí tuệ như: Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Mai Lan với đề tài “Ứng dụng lí thuyết đa nhân tố của H.Gardner vào việc tìm hiểu các loại hình trí tuệ của học sinh Hà Nội” Theo tác giả cần ứng dụng thuyết đa trí tuệ để nghiên cứu phát hiện các loại trí tuệ của HS từ đó lựa chọn phương pháp phù hợp với mỗi HS.
Năm 2013, tác giả Võ Thanh Hà thuộc Viện khoa 7 z học giáo dục Việt Nam nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu lí thuyết đa thông minh và khả năng ứng dụng vào giáo dục tiểu học”, cho rằng ứng dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học là cần thiết song còn nhiều khó khăn như dạy đủ các loại trí tuệ trong một bài là khó, GV m t thời gian chuẩn bị, …. Một số bài báo, một số trang mạng về giáo dục trẻ em cũng có đưa bài về “lý thuyết đa trí tuệ” tuy nhiên mới chỉ ở mức giới thiệu về thuyết đa trí tuệ (mô tả 8 loại hình trí thông minh, đặc điểm của từng trí thông minh) và hướng dẫn cách thức để phát hiện và bồi dưỡng trí thông minh cho trẻ. Năm 2011 cuốn sách có tên “Đa trí tuệ trong lớp học” do Lê Quang Long dịch đã có mặt trong bộ sách đổi mới PPDH. Điều này nói lên rằng giáo dục Việt Nam đã quan tâm tới lý thuyết đa trí tuệ và bước đầu vận dụng vào dạy học.
Trước đó một số quyển sách viết về thuyết đa trí tuệ cũng được biên dịch nhưng chưa nói đến v n đề vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học. Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, đề tài nghiên cứu của một số nhà khoa học vận dụng thuyết đa trí tuệ vào các lĩnh vực đổi mới PPDH, sử dụng phương thức dạy học, trong giáo dục đại học, giáo dục tiểu học,…. của các tác giả Trần Khánh Đức, Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy,Võ Thanh Hà, Phạm Việt Quỳnh đã được công bố [22] Lí thuyết đa trí tuệ được công bố từ năm 1983 đến nay đã trên 30 năm song chưa thực sự có ảnh hưởng và chi phối đến GV các trường công lập bởi chưa có lớp nghiệp vụ nào đào tạo bài bản nội dung hay cách vận dụng lí thuyết này vào thực tế dạy học của GV cả nước. Hiện nay một số trường tư thục theo mô hình quốc tế cũng đã bước đầu l y thuyết đa trí tuệ làm định hướng trong dạy học, một số trường khác có mô hình giáo dục hướng tới đa trí tuệ (mặc dù không được định hướng một cách cụ thể, nhưng nó lại thể hiện được sự giáo dục theo thuyết đa trí tuệ) cũng xu t hiện như mô hình trường thực nghiệm, các trường quốc tế…Cần khẳng định rằng các cơ sở giáo dục quốc tế ở Việt Nam hiện nay đều có những ưu thế lớn về cơ sở vật ch t , chương trình dạy học và là những môi trường thuận 8 z lợi để phát huy tối đa tính cách, sở trường và đam mê của các em, tạo hành trang để các em trở thành những công dân toàn cầu với những phẩm ch t , năng lực và khả năng thích nghi tốt.
Một số mô hình giáo dục quốc tế như trường phổ thông liên c p Wellspring xây dựng chương trình đào tạo toàn diện với ba mặt Tri thức – Trí tuệ, Nhân cách – Tâm hồn, Năng lượng – Cảm xúc, một số trường mầm non quốc tế đã bước đầu quan tâm nghiên cứu và đề xu t việc vận dụng lý thuyết đa thông minh vào thực tế dạy học và kiểm tra đánh giá như trường mầm non cao c p Bibi Home,Trường mầm non quốc tế IQ, Trường phổ thông liên c p Olympia, trung tâm bé thông minh hay trung tâm Gene code…Khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Thủ đô cũng tổ chức Seminar về việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học Tiểu học. Bên cạnh các trung tâm giáo dục kể trên, việc đề xu t vận dụng thuyết đa trí tuệ còn được đăng tải trên một số trang web hay diễn đàn có uy tín như :Trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam hay Webtretho. Đây cũng được coi là kênh thông tin quan trọng, có khả năng lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng xã hội, tạo những luồng thông tin tốt để mọi người có được những hiểu biết sâu rộng hơn về một lý thuyết có khả năng ứng dụng cao trong lĩnh vực giáo dục như lý thuyết đa trí tuệ. Năm 2015, căn cứ vào công văn số 1258/BGDĐT-GDTH về việc không thi tuyển vào lớp 6 mà xét tuyển, hiệu trưởng trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam đã mạnh dạn đề xu t cách thức tuyển sinh vào trường dựa trên lý thuyết đa trí tuệ, cụ thể là:” Mỗi HS sẽ phải thể hiện năng lực của mình trên bài test trong vòng 45 phút dưới dạng viết, sẽ phát hiện các mặt trí tuệ năng lực sau: Ngôn ngữ, không gian hình ảnh, logic, sáng tạo, cơ thể và tri giác vận động, nội tâm bao gồm cả hành vi và thái độ cá nhân, giao tiếp, âm nhạc “.
Đề xu t của nhà trường bước đầu đã được đông đảo dư luận quan tâm. Song nhận th y lí thuyết đa trí tuệ còn khá mới với phụ huynh và HS lại là năm đầu tổ chức xét tuyển lớp 6 nên trường THPT Chuyên Hà Nội 9 z Amsterdam đã chính thức đưa ra phương án tuyển sinh đối với học sinh lớp 6 dựa trên kết quả học tập của 5 năm tiểu học cùng với các chế độ ưu tiên, khuyến khích cộng điểm khác. Mặc dù lí thuyết đa trí tuệ chưa được sử dụng để xây dựng cách thức tuyển sinh vào lớp 6 song với uy tín của nhà trường thì hiệu trưởng từng đề xu t phương án tuyển sinh trên cơ sở ứng dụng lí thuyết này đã mang đến những ảnh hưởng nh t định trong dư luận xã hội, đặc biệt từ phía các nhà giáo dục, các bậc phụ huynh và các em HS. Điều kiện để một môi trường giáo dục có thể vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học không phải dễ thực hiện.
Với những lớp học 45-55 học sinh thì r t khó để ứng dụng triển khai việc vận dụng lý thuyết này. Bên cạnh đó cơ sở vật ch t cũng là rào cản lớn trong việc vận dụng các PPDH tích cực. Chính vì vậy việc áp dụng lý thuyết đa thông minh phù hợp với mô hình trường quốc tế, tư thục, trường chuyên, trường năng khiếu, trường chuẩn quốc gia. Một khi hiệu quả của PPDH trên cơ sở vận dụng lý thuyết đa trí tuệ được kiểm chứng và dụng của lý thuyết đa trí tuệ sẽ có bước tiến nhanh chóng hơn.
Khái quát vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm về trí tuệ Trí tuệ ( trí thông minh ) Trí tuệ là một trong những chủ đề được bàn luận nhiều nh t trong tâm lý học. Mặc dù vậy, vẫn chưa có b t cứ một định nghĩa chuẩn nào về trí tuệ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng trí tuệ là một khả năng đơn lẻ, chung chung, tuy nhiên một số khác lại tin rằng trí tuệ bao gồm một nhóm thành tố như năng khiếu, kỹ năng và tài năng.
Mỗi lúc người ta lại đưa ra những định nghĩa khác nhau về trí tuệ. Mặc dù các định nghĩa này còn có nhiều khác biệt tùy vào mỗi học thuyết, theo Woolfolk và Margetts (2007) trí tuệ có thể được chia thành ba nhóm: - Nhóm 1: Trí tuệ được coi là năng lực học tập. 10 z Trí tuệ ở đây được xem như khả năng thu nhận, lưu trữ và sử dụng kiến thức. - Nhóm 2: Trí tuệ được coi là kiến thức một người thu nhận được.
Để sử dụng được kiến thức, đầu tiên con người phải có khả năng nhận diện các v n đề có thể xảy ra trong từng hoàn cảnh. Trí tuệ ở đây được đánh giá bởi kiến thức một người nắm bắt được trong quá trình học tập và lao động. Nếu nhóm 1 quan tâm đến năng lực học tập thì nhóm 2 quan tâm đến kết quả của một quá trình tiếp thu và phản hồi. - Nhóm 3: Trí tuệ được coi là năng lực thích nghi một cách có kết quả với tình huống mới và môi trường nói chung.
Con người phải có khả năng sử dụng những gì đã học được để đưa ra một phương án giải quyết hữu hiệu cho các v n đề trong cuộc sống. So với hai nhóm đầu nhóm thứ 3 mang đến cách hiểu đúng đắn hơn. Trí tuệ là quá trình tư duy bậc cao của não bộ, bao gồm tiếp nhận, sàng lọc, xử lý thông tin trong đó nh n mạnh đến yếu tố chủ động chọn lọc kiến thức để giải quyết những tình huống phát sinh.