CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ DÂN SINH CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN SINH 1. Cơ sở hình thành quan niệm dân sinh của Hồ Chí Minh Xuất phát từ truyền thống gia đình, quê hương. Nghệ Tĩnh là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, là nơi đã sản sinh ra nhiều con người và lãnh tụ kiệt xuất như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,… Người được sinh ra trong một gia đình nhà nho mẫu mực, giàu truyền thống cách mạng.
Từ cha, mẹ đến các anh, chị của Người đều có chung một chí hướng cứu nước, thương dân. Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nhân cách và phẩm chất cao quý, nghị lực sống phi thường của người cha - cụ Nguyễn Sinh Sắc. Tất cả những điều đó là là cơ sở, điều kiện cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và quan niệm của Người về dân sinh sau này. Với mong muốn tột bậc là "làm sao cho nước nhà được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" [40, tr.
Tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: Với Hòa ước Giáp Thân năm 1884, triều đình nhà Nguyễn đã chính thức dâng Việt Nam cho thực dân Pháp xâm lược vô điều kiện. Triều đình đầu hàng, nhưng nhân dân Việt Nam thì không đồng tình với quyết định đó. Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới ngọn cờ "Cần Vương" do các sĩ phu, văn thân lãnh đạo theo hệ tư tưởng phong kiến, các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng dân chủ tư sản liên tiếp nổ ra vào những năm cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX đã gây ra nỗi khiếp sợ cho quân xâm lược. Tuy nhiên, do đường lối cứu nước không đúng đắn, cuối Luan van 8 cùng tất cả các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và dân chủ tư sản đều thất bại.
Đó là nguyên nhân sâu xa làm cho Việt Nam khủng hoảng về đường lối cứu nước. Mặc dù, Hồ Chí Minh rất quý trọng chí hướng cứu nước của các bậc tiền bối, nhưng người không tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc của họ. Phong trào cứu nước giải phóng dân tộc của nhân dân ta muốn giành thắng lợi phải đi theo một con đường mới. Con đường đó nhất quyết không phải là "Ỷ Pháp cầu tiến bộ" như của Phan Chu Trinh, không phải chủ trương giành độc lập dân tộc bằng con đường sử dụng bạo lực mang tính manh động, cầu ngoại viện chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau" của Phan Bội Châu, cũng không phải bằng cách dựng lại ngọn cờ phong kiến khi nó đã quá rách nát, lỗi thời, không hợp lòng dân.
Trong bối cảnh đó, Người đã tự định ra cho mình một hướng đi mới: "Phải tìm hiểu rõ bản chất của những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái của nước cộng hòa Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, sẽ trở về giúp đồng bào mình" [45, tr. Người chỉ rõ: "Trong khi con thuyền cách mạng Việt Nam còn lênh đênh chưa rõ bến bờ phải đi tới, việc cứu nước như trong đêm tối "không có đường ra" thì lịch sử thế giới có những chuyến biến to lớn" [2, tr. Chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh chuyển sang Đế quốc chủ nghĩa, nhu cầu xâm lược thuộc địa trở thành vấn đề sống còn đối với chủ nghĩa tư bản, khi mà thị trường trong nước không đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất tư bản.
Điều này làm cho mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với các nước thuộc địa Á, Phi, Mỹ Latinh càng trở nên sâu sắc, chủ nghĩa đế quốc không những trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, mà còn là kẻ thù "không đội trời chung" với giai cấp vô sản hiện đại - con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại. Luan van 9 Đỉnh cao sự ra đời, phát triển trưởng thành của phong trào công nhân thế giới là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ thiên tài V. Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười Nga "Mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc" [43, tr. 562], làm "thức tỉnh các dân tộc châu Á", mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của nhân loại.
Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ có thể thành công khi giai cấp vô sản thông qua chính Đảng của mình, mà đứng đầu là V. Lênin đào tạo ra được những lãnh tụ tài giỏi, trung thành với sự nghiệp cách mạng. Bởi vì "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [27, tr. Xuất phát từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Truyền thống tốt đẹp của dân tộc: Với lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời, đã hình thành nên những giá trị truyền thống tốt đẹp, đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề lý luận xuất phát hình thành quan niệm Hồ Chí Minh về dân sinh. Trong các truyền thống đó phải kể đến: Truyền thống yêu nước: Đây là truyền thống quý báu của dân tộc ta và là một trong những chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc. Truyền thống đó luôn cháy bỏng trong tâm hồn của bao thế hệ Việt Nam. Nhất là mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, truyền thống đó lại trỗi dậy mạnh mẽ với bao lớp người sẵn sàng "Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh", "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh".
Nói về truyền thống yêu nước, Hồ Chí Minh từng đúc kết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước" [42, tr. Luan van 10 Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc.
Từ đó người đã đến với hệ thống tri thức nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin. Truyền thống lấy dân làm gốc: Lịch sử hơn hai nghìn năm trăm năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã từng phải đối đầu với rất nhiều quân thù hung tợn, tàn bạo nhưng nhân dân Việt Nam vẫn anh dũng vượt qua mọi thử thách, chiến đấu và chiến thắng mọi kể thù xâm lược để giữ vững nền độc lập dân tộc. Một trong những nguyên nhân quan trọng mang lại chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trước các thế lực ngoại xâm là tư tưởng "lấy dân làm gốc" đã ngấm vào trong máu của cơ bản các triều đại phong kiến. Mặc dù đội ngũ quan lại luôn mang tính giai cấp, họ được đào tạo ra để bảo vệ sự tồn vong của nhà nước phong kiến, song thành phần vua tôi ở Việt Nam chủ yếu xuất thân từ nhân dân, nên họ là những người gần dân, thân dân, gắn bó với nhân dân, được nhân dân che chở, ủng hộ, đùm bọc.
Lịch sử dân tộc cũng đã chứng minh một chân lý: Chỉ những triều đại biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc, thấy được sức mạnh “vừa có khả năng đẩy thuyền vừa có khả năng lật thuyền” của dân, thì triều đại đó chẳng những đứng vững mà còn vượt qua được sóng gió, đất nước hưng thịnh, muôn dân thái bình. Truyền thống đoàn kết, tinh thần tương thân, tương ái, truyền thống kiên cường, bất khuất, thông minh sáng tạo, lòng nhân nghĩa, khiêm tốn, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho văn hóa dân tộc. cũng là những tiền đề tư tưởng lý luận cho sự ra đời quan điểm Hồ Chí Minh về dân sinh. Trong các giá trị truyền thống dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là giá trị cơ bản nhất.
Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại: Hồ Chí Minh đã biết làm giàu vốn văn hóa của mình bằng cách học hỏi, tiếp thu tư tưởng văn hóa phương Đông và phương Tây. Luan van 11 Hồ Chí Minh đã tiếp thu trên cơ sở phê phán những quan điểm của nho giáo làm tiền đề cho sự ra đời tư tưởng Người về nhân dân và dân sinh. Bằng việc tiếp thu những giá trị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng của người quân tử trong Nho giáo, trên cơ sở phê phán những điều không đúng, như: Tư tưởng trọng nam khinh nữ; xem nhẹ lao động chân tay…. Bên cạnh đó, những giá trị tích cực khác của Nho giáo như triết lý hành động, tu thân, tề gia, nhân nghĩa, triết lý nhân sinh, đề cao văn hóa lễ giáo, ước vọng về một xã hội bình trị, một thế giới đại đồng, tư tưởng tin dân, đề cao sức mạnh của nhân dân, đặc biệt là việc đề cao tư tưởng "Đức trị" là một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng cho sự ra đời quan niệm của Hồ Chí Minh về dân sinh.
Nói về vai trò của "Đức trị" trong việc trị vì quốc gia, Khổng Tử từng khẳng định: "Làm chính trị mà dùng đức thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng cả về" [26, tr. Thấm nhuần giá trị tiến bộ đó, Hồ Chí Minh đẩy nó cao hơn với chủ trương "Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"; Nhà nước mới "là người đầy tớ trung thành của nhân dân" [38, tr. Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn; giản dị; chống phân biệt đẳng cấp, chăm lo điều thiện; thương người như thể thương thân. Bên cạnh Nho giáo và Phật giáo, trong kho tàng tư tưởng phương Đông, quan niệm Hồ Chí Minh về dân sinh còn chịu ảnh hưởng và tiếp thu phần tích cực, tiến bộ của nhiều học thuyết khác như Mặc gia, Đạo gia, Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn.
Tư tưởng văn hóa phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin là một trong ba tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và quan niệm dân sinh nói riêng.