Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Trường nghĩa và việc phân tích đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Trường nghĩa Trong hệ thống ở trạng thái tĩnh, các đơn vị từ vựng không tồn tại tách biệt, rời nhau mà luôn có những mối quan hệ nhất định. Điều đó làm cho từ vựng không thuần túy chỉ là tập hợp ngẫu nhiên các từ và đơn vị tương đương với từ, mà còn là một hệ thống với những mối quan hệ nhất định. Một trong những mối quan hệ mà các nhà khoa học thường tập trung làm rõ là quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng.
Các từ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa (hay là trường từ vựng, hoặc trường từ vựng – ngữ nghĩa) [10, tr. Quan niệm trường nghĩa Lý thuyết trường nghĩa ra đời vào mấy chục năm gần đây. Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống. Do vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về trường nghĩa, trong “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) cho rằng có hai khuynh hướng chủ yếu: Khuynh hướng thứ nhất quan niệm “Trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện” [20, tr.
Đại diện cho khuynh hướng này là L. Lý thuyết trường nghĩa của J. Trier phù hợp với luận điểm của Weisgerber về sự tồn tại trong ngôn ngữ những phạm vi khái niệm được tổ chức một cách hệ thống. Lý thuyết trường nghĩa xuất phát từ những tiền đề của trường phái W.
Humbold mới và phần nào từ những tư tưởng của F.Sausure về tính hệ thống của ngôn ngữ và những phương pháp kết cấu trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ. Theo quan niệm của J. Trier và những người kế tục ông, mặt nghĩa của ngôn ngữ là một kết cấu chặt chẽ, được phân chia ra thành 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những trường hoặc những phạm vi khái niệm một cách rõ ràng. Một từ chỉ có ý nghĩa khi nằm ở trong trường nhờ những mối quan hệ của nó với các từ khác cũng thuộc trường ấy.
Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được ý nghĩa qua cái toàn thể. Có nghĩa là từ của ngôn ngữ nào đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, ngược lại, mỗi một từ có ý nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó. Khuynh hướng thứ hai xây dựng lý thuyết trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học. Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa.
Ipsen căn cứ vào hình thái và chức năng của từ để xây dựng trường nghĩa. Trường nghĩa theo quan niệm của Ipsen gồm những từ họ hang với nhau về ý nghĩa và hình thức. Konradt – Hicking lại xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các từ ghép trong đó từ rời với tư cách thành tố của tù ghép đóng vai trò thành viên của trường. Theo ông, trong phạm vi một trường từ vựng duy nhất, tức là tỏng các từ ghép, chỉ có thể tập hợp các từ thuộc cùng một phạm vi biểu tượng.
Muller và Porzig xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các ý nghĩa ngữ pháp của các quan hệ. Họ cho rằng ý nghĩa của các từ lệ thuộc vào những liên hệ cú pháp. Do đó theo quan điểm của học thì trường nghĩa là những quan hệ đơn giản gồm động từ hành động và danh từ chủ thể hành động hay danh từ bổ ngữ, tính từ và danh từ… Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất được gọi là “nhóm từ vựng - ngữ nghĩa”. Tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành nhóm từ vựng có thể dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát, biểu thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất, trung hòa.
Từ này được dùng như một cái máy để đo đạc và phát hiện ý nghĩa phạm trù chung, trên cơ sở đó tập hợp các thành phần còn lại của trường. Theo cách này, khi tập hợp các từ vào một trường, người nghiên cứu không những chỉ dựa vào sự hiểu biết của mình mà còn có thể dựa vào trực giác tập thể của những 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người biên soạn từ điển. Đặc biệt người ta cũng coi là trường nghĩa cả những kết cấu ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa. Giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa thường có một yếu tố ngữ nghĩa chung, tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa.
Toàn bộ các nghĩa khác nhâu của một từ tạo ra một trường nghĩa nhỏ nhất. Tuy nhiên, lý thuyết trường nghĩa này lại xuất phát từ những tư tưởng của F. Saussure về tính cấu trúc của ngôn ngữ đặc biệt là về quan hệ liên tưởng và quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ. Chính ông đã phát hiện ra “Hầu hết các đơn vị của ngôn ngữ đều dựa vào những cái bao quanh nó” [27, tr.
Và “ Cái toàn thể có giá trị là do cái bộ phận của nó và cái bộ phận cũng có giá trị cũng lại nhờ vị trí của nó trong toàn thể. Mỗi đơn vị có thể ví như một cái cột trong một ngôi nhà” [27, tr. Vào những năm 80 của thế kỉ XX, lý thuyết này bắt đầu được giới thiệu vào Việt Nam mà người khởi đầu là GS. Trên cơ sở tiếp thu các thành tựu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài , các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra những quan điểm về khái niệm trường nghĩa.
Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa” [5, tr. Có thể nói cách hiểu này đã khái quát được nét chung nhất tiêu biểu về đặc điểm của trường nghĩa. Phân loại trường nghĩa Để chỉ ra tính hệ thông của ngôn ngữ, F. De Sausure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ, đó là – quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình).
Cũng theo hai mối quan hệ này, trường từ vựng ngữ nghĩa được phân loại thành các trường từ vựng ngữ nghĩa theo quan hệ ngang (trường tuyến tính) và trường từ vựng – ngữ nghĩa theo quan hệ dọc (trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm). Bên cạnh hai loại trường nghĩa cơ bản như vậy, trong ngôn ngữ còn tồn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tại một trường nghĩa khá đặc sắc – đó là trường liên tưởng. Sau đây là một số điểm chính về các loại trường nghĩa này [10, tr. - Trường nghĩa ngang: Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.
Các từ trong một tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các ngôn bản. Khi đi phân tích ý nghĩa của chúng có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó [10, tr. - Trường nghĩa dọc: + Trường nghĩa biểu vật: Trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp chúng ta chọn các danh từ làm gốc.
Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu… Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật cho nên một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau. Các trường nghĩa khác nhau sẽ số lượng đơn vị khác nhau. Các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa nhiều hơn trong một trường nghĩa tạo thành một tiểu trường nghĩa. Mỗi một trường nghĩa có những từ ngữ trung tâm, đặc trưng cho trường nghĩa đó.
Trong mỗi trường nghĩa lớn lại có các trường nghĩa nhỏ hơn. Khi phân lập các trường, chú ý đến nghĩa biểu vật chứ không chú ý đến từ không phải một từ đã ở trường này thì không thể ở trường kia được nữa. Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật, dó đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật chính và ý nghĩa biểu vật phụ, cho nên chúng ta có thể phân biệt các trường biểu vật chính và trường biêu vật phụ của từ. Nếu nghĩa chính của từ nằm trong 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường nào thì trường đó là trường biểu vật chính của nó.
Các trường biểu vật có thể thẩm thấu vào nhau giao thoa với nhau. Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia. Căn cứ vào số lượng các từ chung cho hai trường nhiều hay ít mà chúng ta nói đến tính độc lập, tương đối nhiều hay ít giữa hai trường. + Trường nghĩa biểu niệm: Trường biểu niệm chính là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm.
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có các miền với mật độ khác nhau. Các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình cà những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi. Để xác lập trường biểu niệm, ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó. Khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ra phải sử dụng đến nét nghĩa biêu vật.
Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường. Nhưng, cũng chính nhờ vào các trường, nhờ sự định vị được từng từ một trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ. - Trường liên tưởng: Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch. Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên tưởng.
Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng.