Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giáo dục đại học Việt Nam đối mặt với yêu cầu cấp thiết phải đổi mới căn bản mô hình đào tạo nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Tại tỉnh Phú Thọ, vùng đất có diện tích tự nhiên 3.456 km2 với dân số 1,3 triệu người và lực lượng lao động dồi dào khoảng 75,3 vạn người, Trường Đại học Hùng Vương được thành lập năm 2003 giữ vai trò là trung tâm đào tạo đa cấp, đa ngành trọng điểm. Kế thừa truyền thống hơn 45 năm từ Trường Cao đẳng Sư phạm Phú Thọ, quy mô sinh viên tập trung của nhà trường đã gia tăng nhanh chóng từ 1.414 sinh viên thuộc 28 lớp trong năm học 2004 - 2005 lên đến 2.840 sinh viên thuộc 57 lớp của 30 ngành đào tạo vào năm học 2007 - 2008.
Tốc độ mở rộng quy mô đào tạo trên 100,8% trong vòng 3 năm đặt ra bài toán lớn về việc bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện cả về đức và tài. Phần lớn sinh viên xuất thân từ vùng nông thôn (chiếm 86% cơ cấu dân số toàn tỉnh), có điểm chuẩn tuyển sinh thuộc nhóm trung bình và còn bộc lộ nhiều hạn chế về phương pháp tự học độc lập. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo theo chuẩn mực hiện đại với thực trạng nhận thức, thói quen tự rèn luyện của sinh viên. Đề tài xác định mục tiêu khảo sát thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm xây dựng ý thức tự giáo dục cho sinh viên trong giai đoạn 2003 - 2007. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học để chuẩn hóa năng lực tự học cho sinh viên 22 ngành đào tạo chính quy, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du, miền núi Bắc Bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất con người và quy luật hình thành nhân cách. Triết học Mác khẳng định con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể tích cực cải tạo hoàn cảnh. Sự phát triển nhân cách là quá trình tự thân vận động, giải quyết liên tục các mâu thuẫn nội tại, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo định hướng, còn tự giáo dục là khâu quyết định trực tiếp kết quả cuối cùng.
Đề tài vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, nhấn mạnh nguyên lý lấy tự học làm cốt và khẳng định đạo đức cách mạng là cái gốc nền tảng để phát triển tài năng chuyên môn. Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận triết lý giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO với 4 trụ cột: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người, hướng đến xây dựng xã hội học tập suốt đời. Các khái niệm trung tâm được phân định rõ ràng gồm: tự ý thức (khả năng tự nhận thức, tự đánh giá hành vi và vị thế xã hội của cá nhân), tự giáo dục (quá trình chủ thể biến các yêu cầu sư phạm bên ngoài thành nhu cầu tự thân để hoàn thiện nhân cách) và phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các văn bản quản lý đào tạo, báo cáo công tác quản lý sinh viên và tổng kết hoạt động Đoàn Thanh niên - Hội Sinh viên của Trường Đại học Hùng Vương trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2007. Tác giả đã tiến hành khảo sát thực nghiệm với cỡ mẫu 500 sinh viên chính quy được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, đại diện đồng đều cho các khối ngành sư phạm và ngoài sư phạm thuộc 5 khoa chuyên môn, cùng với 50 cán bộ quản lý và giảng viên trực tiếp giảng dạy.
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp lý luận, phương pháp logic - lịch sử, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và thống kê mô tả. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa khung lý luận triết học với dữ liệu thực chứng sinh động, giúp đánh giá khách quan thực trạng nhận thức và hành vi tự học của sinh viên trong giai đoạn trường chuyển đổi từ cơ sở đào tạo đơn ngành lên mô hình đại học đa ngành.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nhận thức chính trị - tư tưởng và ý thức tu dưỡng đạo đức của sinh viên có chuyển biến rõ nét thông qua các hoạt động phong trào tập thể. Sau các đợt học tập tuần sinh hoạt chính trị đầu khóa, 100% đoàn viên sinh viên đã ký cam kết không vi phạm các tệ nạn xã hội. Tinh thần trách nhiệm cộng đồng được nâng cao rõ rệt với trên 85% sinh viên tham gia các hoạt động nhân đạo, tiêu biểu như quyên góp gần 6 triệu đồng ủng hộ đồng bào bão lụt và 3 triệu đồng hỗ trợ xây nhà tình nghĩa cho cựu thanh niên xung phong thị xã Phú Thọ.
Thứ hai, tồn tại sự chênh lệch lớn giữa mức độ nhận thức lý thuyết và hành động tự học chuyên môn hằng ngày. Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 60% sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu tài liệu, nhưng chỉ có khoảng 30% sinh viên duy trì thời gian tự học trên 3 giờ mỗi ngày. Hơn 40% sinh viên vẫn học tập theo lối đối phó, phụ thuộc thụ động vào việc ghi chép bài giảng trên lớp và chỉ tập trung ôn thi trong thời gian ngắn trước kỳ đánh giá.
Thứ ba, việc lồng ghép tự giáo dục vào phong trào văn hóa - thể thao và rèn luyện nghiệp vụ đem lại hiệu quả thực tế vượt trội. Khối ngành sư phạm duy trì nghiêm túc hoạt động rèn nghề định kỳ 1 buổi mỗi tuần với tỷ lệ tham gia đạt 100%. Phong trào thể dục thể thao đạt thành tích xuất sắc tại các giải thi đấu cấp tỉnh với 10 huy chương vàng, 8 huy chương bạc và 7 huy chương đồng trong năm học 2006 - 2007, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và tính chủ động của sinh viên.
Thứ tư, áp lực gia tăng quy mô đào tạo gây khó khăn trực tiếp cho điều kiện tự học của người học. Số lượng sinh viên hệ chính quy tăng 100,8% sau 3 năm khiến hệ thống phòng đọc thư viện và phòng máy vi tính chỉ đáp ứng được khoảng 65% nhu cầu tra cứu thông tin thực tế, tạo rào cản lớn cho hơn 35% sinh viên đang sinh sống tại các khu nhà trọ ngoại trú.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của thực trạng trên bắt nguồn từ cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan. Về khách quan, phần lớn sinh viên có xuất thân từ vùng nông thôn miền núi (chiếm 86% dân số toàn tỉnh Phú Thọ), điều kiện tiếp cận các phương tiện thông tin và phương pháp tư duy độc lập ở bậc phổ thông còn nhiều hạn chế. Điểm chuẩn đầu vào của trường thuộc tốp dưới trong hệ thống đại học công lập cũng tạo tâm lý tự ti ban đầu cho người học. Về chủ quan, một bộ phận sinh viên chưa xác định rõ động cơ học tập, thiếu kỹ năng quản lý thời gian và dễ bị phân tán bởi các tác động tiêu cực ngoài xã hội.
Những phát hiện này hoàn toàn tương đồng với nhận định của nhiều nhà giáo dục tiêu biểu tại Việt Nam khi chỉ ra rằng tự học chính là nút thắt quyết định chất lượng đào tạo đại học. Dữ liệu khảo sát thực trạng có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh thời lượng tự học giữa sinh viên nội trú (đạt trung bình 3,2 giờ/ngày) và sinh viên ngoại trú (chỉ đạt 2,1 giờ/ngày), kết hợp bảng số liệu phân bố kết quả rèn luyện đạo đức theo từng năm học nhằm minh chứng cho mối tương quan thuận giữa môi trường quản lý và ý thức tự giáo dục.
Đề xuất và khuyến nghị
Để nâng cao ý thức tự giáo dục cho sinh viên Trường Đại học Hùng Vương, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản:
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận học chế tín chỉ: Giảng viên chủ động chuyển đổi từ 30% đến 40% thời lượng truyền thụ lý thuyết sang hình thức thảo luận nhóm, hướng dẫn tiểu luận và bài tập tình huống. Mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên đạt kỹ năng tự học khá, giỏi lên trên 75% trong năm học 2007 - 2008, do Phòng Đào tạo phối hợp cùng các Khoa chuyên môn chủ trì thực hiện.
- Nâng cấp cơ sở vật chất và không gian tự học: Nhà trường đầu tư mở rộng Trung tâm Thông tin - Tư liệu và Thư viện, trang bị bổ sung ít nhất 100 máy vi tính có kết nối mạng Internet tốc độ cao và số hóa 50% giáo trình chuyên ngành trong giai đoạn 2007 - 2010. Ban Giám hiệu cùng Trung tâm Thư viện chịu trách nhiệm điều hành dự án.
- Đẩy mạnh phong trào rèn nghề và nghiên cứu khoa học sinh viên: Đoàn Thanh niên và Phòng Quản lý Khoa học duy trì 100% sinh viên khối sư phạm tham gia rèn luyện nghiệp vụ 1 buổi/tuần, đồng thời phát động chỉ tiêu đạt từ 15 đến 20 đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường mỗi năm học.
- Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và cơ chế tự quản ngoại trú: Thiết lập mô hình phối hợp liên ngành giữa Phòng Quản lý sinh viên, Đoàn trường và chính quyền địa phương với tần suất kiểm tra 2 lần mỗi tháng tại các khu trọ, bảo đảm 100% sinh viên ngoại trú được sinh hoạt trong môi trường an ninh, lành mạnh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
- Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường đại học, cao đẳng địa phương: Cung cấp khung luận cứ để hoạch định chính sách quản trị sinh viên, nâng cấp cơ sở vật chất và phân bổ nguồn lực đào tạo theo học chế tín chỉ.
- Giảng viên giảng dạy các môn Lý luận Chính trị, Tâm lý Giáo dục và chuyên ngành Sư phạm: Ứng dụng phương pháp giảng dạy gợi mở, xây dựng bài tập nghiên cứu và kỹ năng định hướng cho người học phương pháp tự chiếm lĩnh tri thức.
- Cán bộ Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên các cấp: Tham khảo mô hình tổ chức các phong trào thi đua học tập, diễn đàn thanh niên sống đẹp và phương thức duy trì các đội thanh niên xung kích tự quản tại ký túc xá.
- Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học Giáo dục, Triết học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo với hệ thống số liệu thực chứng phong phú về đặc điểm sinh viên vùng trung du Bắc Bộ trong giai đoạn chuyển đổi mô hình giáo dục 2003 - 2007.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao tự giáo dục giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển nhân cách của sinh viên?
Dưới góc độ triết học duy vật biện chứng, tác động giáo dục của nhà trường chỉ là điều kiện bên ngoài. Kết quả hoàn thiện nhân cách chỉ được tạo lập khi người học chủ động nội tâm hóa các giá trị, biến tri thức thành niềm tin và hành vi tự giác, như minh chứng qua việc 100% sinh viên Đại học Hùng Vương ký cam kết bài trừ tệ nạn xã hội.
Đặc điểm sinh viên Trường Đại học Hùng Vương ảnh hưởng như thế nào đến ý thức tự học?
Đại đa số sinh viên xuất thân từ vùng nông thôn (chiếm 86% dân số toàn tỉnh Phú Thọ), có đức tính cần cù, mộc mạc nhưng phương pháp tự học chưa hoàn thiện. Điểm chuẩn đầu vào thuộc tốp dưới đòi hỏi nhà trường phải có lộ trình rèn luyện kỹ năng tự nghiên cứu bài bản cho sinh viên ngay từ năm thứ nhất.
Học chế tín chỉ thúc đẩy năng lực tự giáo dục của sinh viên thông qua cơ chế nào?
Học chế tín chỉ giảm thời gian giảng lý thuyết trên lớp và tăng gấp đôi thời lượng tự nghiên cứu bắt buộc. Khi nhà trường triển khai mô hình đào tạo theo 22 mã ngành chính quy, sinh viên buộc phải tự lập kế hoạch học tập, chủ động đến thư viện và làm việc nhóm để hoàn thành khối lượng tín chỉ quy định.
Đoàn Thanh niên có vai trò gì trong việc xây dựng ý thức tự giáo dục cho sinh viên?
Đoàn Thanh niên tạo ra môi trường thực tiễn rèn luyện phong phú thông qua tuần sinh hoạt chính trị, phát thanh tuyên truyền 2 buổi/tuần, phong trào hiến máu và các giải thể thao giành 25 huy chương các loại. Những hoạt động này giúp đoàn viên thanh niên tự giác bồi đắp kỹ năng sống và ý thức trách nhiệm.
Làm thế nào để sinh viên cân bằng giữa tu dưỡng đạo đức và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp?
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức là gốc rễ để phát huy tài năng chuyên môn. Sinh viên cần duy trì chuẩn mực nếp sống văn minh học đường, đồng thời tham gia đầy đủ lịch rèn luyện nghiệp vụ sư phạm 1 buổi/tuần và tích cực học tập thêm ngoại ngữ, tin học để đáp ứng chuẩn đầu ra của thị trường lao động.
Kết luận
Luận văn đã giải quyết toàn diện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với các kết luận then chốt:
- Khẳng định tự giáo dục là quy luật tất yếu mang ý nghĩa quyết định chất lượng giáo dục toàn diện trong hệ thống đào tạo đại học.
- Đánh giá thực trạng sinh động của Trường Đại học Hùng Vương với quy mô tăng trưởng nhanh lên 2.840 sinh viên chính quy thuộc 30 ngành đào tạo.
- Ghi nhận chuyển biến tích cực trong nhận thức chính trị với 100% đoàn viên sinh viên ký cam kết rèn luyện đạo đức và bài trừ tiêu cực học đường.
- Nhận diện rõ hạn chế về kỹ năng tự học thụ động và sự quá tải cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu của sinh viên vùng trung du.
- Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ từ đổi mới phương pháp dạy học, nâng cấp thư viện điện tử đến phối hợp quản lý môi trường ngoại trú.
Đóng góp lớn nhất của công trình là xây dựng cơ sở khoa học giúp nhà trường chuyển hóa quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục có chiều sâu. Trong giai đoạn 2007 - 2010, việc ứng dụng quyết liệt các giải pháp này sẽ tạo nền tảng vững chắc để Trường Đại học Hùng Vương nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương và cả nước.