mở đầu bởi các nhà thông thái Hy Lạp như Talet, Pitago, Ơclit, Acsimet với các khám phá thiên tài về lĩnh vực toán học, thiên văn học, vật lý học. Nhà thông thái đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đại đã phát minh ra các định lý hình học rất có giá trị và được Pitago tiếp tục phát triển. Tư duy toán học Hy Lạp đạt tới đỉnh cao trong 13 cuốn “Cơ sở hình học” của Ơclit đã tạo nên cả một thời đại phát triển rực rỡ của hình học. Đó là những chuẩn mực tri thức có giá trị cho quá trình xây dựng và phát triển khoa học toán học sau này.
Acsimet là người đã áp dụng những tri thức toán học vào hành động thực tiễn và thấy rằng toán học có vai trò vô cùng to lớn, là chìa khóa vạn năng giải quyết được mọi vấn đề. Những tư tưởng ấy đã đặt nền móng cho toàn bộ hệ thống toán học cũng như khoa học tự nhiên phương Tây.Kant trong quá trình nghiên cứu toán học đã rất lưu ý đến những tri thức toán học nói trên. Ông nhận xét: “Từ thời rất xa xưa mà lịch sử của lý tính con người có thể vươn tới, toán học đã đi con đường vững chắc của một khoa học nơi dân tộc Hy Lạp đáng ngưỡng mộ…một ánh sáng đã lóe lên trong đầu óc người đầu tiên (đó là Thales hay có thể một tên tuổi nào khác) khi ông chứng minh tam giác cân. Đó là khi ông thấy rằng không thể dựa vào những gì ông nhìn thấy trong hình tam giác, hay dò theo khái niệm đơn thuần về nó để từ đó rút ra các đặc điểm, trái lại phải tạo ra hình tam giác từ những gì tự ông nghĩ ra một cách tiên nghiệm dựa theo các khái niệm, và diễn tả nó (bằng sự cấu tạo - Konstruktion); và thấy rằng để nhận thức chắc chắn về cái gì một cách tiên nghiệm, ông không cần phải gán cho sự vật những thuộc tính nào khác ngoài những gì được tất yếu rút ra từ cái mà bản thân ông đã đặt vào trong sự vật, phù hợp với khái niệm của ông về nó” [17, 40-41].
Nhận xét trên của Kant đã cho thấy ông tin rằng những định lý, tiên đề toán học cũng giống như các khái niệm, phạm trù triết học không phải được khái quát lên từ những kết quả của sự nghiên cứu, khảo sát trong thực tế, từ kinh nghiệm cảm tính, mà ngược lại đó là những điều tiên nghiệm có sẵn trong giác tính của con người. Kant đã trượt sang con đường của chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm, xa rời tính chất duy vật được thể hiện trong toán học thời Hy Lạp. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự phát triển của khoa học tự nhiên thời kỳ tiếp theo có ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng của Kant. Những phát minh vạch thời đại của khoa học đã tạo nên những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhận thức nhân loại.
Năm 1543 tại Ba Lan, nhà thiên văn học Copernic đã đưa ra tác phẩm “Về sự vận động của các thiên thể” với thuyết nhật tâm trực tiếp công kích, phản bác lại thuyết địa tâm do Arixtốt khởi xướng, Ptomele phát triển ở thời cổ đại. Thay vì trái đất là trung tâm, mặt trời và các thiên thể quay quanh trái đất như chúng ta quan sát thấy; thì Copernic đảo ngược lại với quan niệm dựa vào những nghiên cứu khoa học của ông là mặt trời đứng yên và là trung tâm của vũ trụ, trái đất và các thiên thể khác quay xung quanh mặt trời. Phát hiện đó không chỉ có ý nghĩa trong khoa học tự nhiên mà còn làm nền tảng cho bước ngoặt trong sự phát triển của triết học. “Trong lịch sử triết học triết học gọi đó là “cuộc cách mạng Copernic về lề lối tư duy” [17, 41].
Kant cho rằng phương pháp của Siêu hình học “đến nay chỉ là sự mò mẫm đơn thuần, và càng tệ hại hơn, chỉ là sự mò mẫm giữa những khái niệm suông mà thôi” [17, 43]. Do đó, tư duy triết học cần phải tiến hành một cuộc đảo lộn như Copernic đã từng làm. Ông viết: “Siêu hình học như là các tri thức lý tính, ít ra cũng nên thử mô phỏng điểm cốt yếu này. Lâu nay người ta giả định rằng mọi nhận thức của ta phải hướng theo các đối tượng; thế nhưng mọi nỗ lực dùng các khái niệm để xử lý đối tượng một cách tiên nghiệm hầu qua đó mở rộng nhận thức của ta đều đi đến thất bại cũng tại vì giả định này.
Vì thế hãy thử nghiệm để biết đâu chúng ta có thể tiến lên tốt hơn trong việc giải quyết các vấn đề của Siêu hình học bằng cách giả định rằng các đối tượng phải hướng theo nhận thức của ta; nhận thức ấy sẽ phù hợp tốt hơn với khả thể được đòi hỏi của một nhận thức tiên nghiệm về đối tượng, tức loại nhận thức xác định một cái gì đó về đối tượng trước khi đối tượng được mang lại cho ta. Đó cũng chính là tình hình đã xảy ra với ý tưởng đầu tiên của Copernic”[17, 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kant thực sự đã thực hiện một cuộc đảo lộn Copernic trong triết học của mình, đặt nền móng cho sự chuyển hướng trong triết học cổ điển Đức sau này. Sự ảnh hưởng của khoa học tự nhiên tới triết học nói chung và sự lựa chọn đi theo chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Kant nói riêng đã được ông đề cập tới trong “Lời tựa cho lần xuất bản thứ hai (1787)” cho cuốn “Phê phán lý tính thuần túy”: “Khi Galilei cho những viên bi có trọng lượng do ông tự lựa chọn trượt xuôi theo một mặt phẳng nghiêng, hay Torricelli để cho không khí mang một trọng lượng mà ông tự nghĩ ra từ trước ngang bằng với trọng lượng của một cột nước đã biết, hay muộn hơn, khi Stahl chuyển hóa kim loại thành vôi và lại chuyển hóa vôi thành kim loại bằng cách rút bớt đi và cho thêm trở lại một cái gì đấy nơi chúng, thì cũng có một tia sáng lóe lên trong đầu óc của mọi nhà nghiên cứu tự nhiên.
Họ hiểu ra rằng lý tính chỉ nhận ra những gì do bản thân nó tạo ra theo phác họa của nó…bắt buộc tự nhiên phải trả lời cho các câu hỏi của nó, chứ không chỉ chịu để cho tự nhiên dẫn dắt” [17, 41-42]. Bức tranh văn hóa - khoa học châu Âu cuối thế kỷ XVIII đã có nhiều khởi sắc, nhiều phát minh khoa học mới ra đời. Những tiến bộ đáng kể của khoa học tự nhiên ngày càng chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình thống trị trong tư tưởng Tây Âu suốt thế kỷ XVII - XVIII. Năm 1687, nhà toán học, triết học người Anh Niutơn với cuốn “Nguyên tắc toán học” đã đề cập tới sự vận động của các thiên thể trên phương diện toán học, đặc biệt là sự áp dụng động lực học và định luật vạn vật hấp dẫn vào hệ thống mặt trời.
Điều đó đã ảnh hưởng tới Kant. Ông cho rằng, phương pháp của Niutơn là một phương pháp đáng tin cậy - dựa vào kinh nghiệm và hình học. Kant nhận thấy triết học cũng giống khoa học tự nhiên phải dựa vào những kinh nghiệm cảm tính, quan sát thực nghiệm và cả lý tính trong đó lý tính 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đóng vai trò quan trọng nhất. Niutơn (Anh), Đềcáctơ (Pháp), Lepnit (Đức) đã đưa toán học vận dụng vào sản xuất và đời sống xã hội, đối tượng của toán học vượt ra khỏi dạng tĩnh, vươn sang dạng động.
Các nhà khoa học đã chỉ ra một cách hệ thống những hình thức vận động của vật chất vượt lên trên cách hiểu cơ học, lý học, hóa học, sinh học. Việc phát minh ra điện và sử dụng điện năng đã góp phần tạo ra bước nhảy vọt của phát triển sản xuất từ công trường thủ công tới công trường cơ khí, đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn và biến hóa năng lượng và vật chất của vũ trụ. Lômônôxốp chứng minh bằng thực nghiệm luật “Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng”. Nhà hóa học Pháp Lavoarê, dựa vào những phát minh hóa học, bác bỏ quan niệm về sự tồn tại của một vật chất đặc biệt: chất cháy không trọng lượng, đặt nền móng cho sự cháy và ôxy hóa nói chung.
Sau sự sụp đổ của thuyết chất cháy, khoa học tự nhiên dù chưa bác bỏ hết những “chất không có trọng lượng” khác như “chất nhiệt”, “chất ánh sáng”, “chất âm thanh”… nhưng đã khám phá ra rằng, nhiệt, ánh sáng, âm thanh… đều là những hình thức vận động khác nhau của vật chất. Với nguyên lý cấu tạo hóa học khác nhau của vật thể do Đantơn khám phá ở Anh, người ta đã giải thích được rằng những thay đổi về chất của vật thể đều phụ thuộc vào cấu tạo lượng của nó. Sự phân tích quá trình hóa học đã làm thay đổi quan niệm máy móc coi vận động chỉ là sự chuyển dịch đơn giản của sự vật. Gơtơ nêu lên nhiều quan niệm tiên tiến về giải phẫu học so sánh và về địa chất học.
Nghiên cứu vật hóa thạch trong lòng đất, Cuviê chứng minh giới thực vật và động vật đều có sự phát triển theo quá trình địa chất của trái đất. Tiến hóa luận của Lamác và Vônphơ bác bỏ “dự thành luận” với quan niệm cho rằng mọi sinh vật sinh ra đều có dự định sẵn, đều nhất thành, bất biến,…cùng với việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhúc đòi hỏi phải có cách lý 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải mới về sự sống. Sau đó là thuyết tiến hóa của Đácuyn ra đời tạo nên một bước ngoặt trong nhận thức về nguồn gốc các loài. Trong sinh học có dự báo về sự phát triển trong sinh học - bào thai đã mang trong nó mọi dấu hiệu của một sinh vật đã trưởng thành, do đó không có gì mới xuất hiện mà không có nguồn gốc của nó.
Vai trò của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển của triết học một lần nữa được Ph.Ăngghen đánh giá trong tác phẩm “Lútvich Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”: “Trong suốt thời kỳ lâu dài từ Descartes đến Hegel, từ Hobbes đến Feuerbach, cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên hoàn toàn không phải là sức mạnh của tư duy thuần túy như họ tưởng tượng. Trái lại cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ, ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghệ” [29,407].