Chương 1 NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA KANT 1. Lý tính và những nguyên tắc đạo đức 1. Lý tính trong đạo đức học của Kant Trong lĩnh vực đạo đức, Kant là người kiên quyết phản đối chủ nghĩa duy nghiệm, bởi ông cho rằng, việc xây dựng những nguyên tắc đạo đức mà dựa vào những yếu tố cảm tính (thiện - ác, sướng - khổ, tốt -xấu, hạnh phúc…) sẽ dẫn con người đến những điều ảo tưởng và tội lỗi, thậm chí không thể phân biệt giữa đạo đức và sự vô đạo đức. Ông viết: “Thuyết duy nghiệm cắt đứt tận gốc tính luân lý của những ý đồ (chính trong những ý đồ chứ không phải chỉ trong những hành vi mới chứa đựng giá trị cao cả mà con người có thể và cần phải mang lại cho chính mình), và thay thế nghĩa vụ bằng cái gì hoàn toàn khác, đó là một lợi ích thường nghiệm được những xu hướng nói chung kín đáo theo đuổi; và thuyết duy nghiệm, do liên mình với mọi loại xu hướng (bất kể theo kiểu biểu hiện nào), hạ thấp tính người khi những xu hướng ấy được nâng lên thành phẩm giá của một nguyên tắc thực hành tối thượng; và vì lẽ những xu hướng dễ dàng chiều theo lề lối cảm tính của con người nên thuyết duy nghiệm càng nguy hiểm hơn so với thuyết thần bí vốn không bao giờ có thể tạo nên trạng thái lâu bền nơi số đông người” [7, tr.
Vì thế, ông chủ trương xây dựng đạo đức học dựa trên những nguyên tắc (quy tắc) của lý tính, độc lập hoàn toàn với những yếu tố cảm tính. Vậy, chúng ta hãy tìm hiểu xem trong lĩnh vực này, ông quan niệm như thế nào về lý tính? Kant chủ yếu sử dụng khái niệm lý tính theo nghĩa là “lý tính thuần túy thực hành” trong các tác phẩm đạo đức học để phân biệt với “lý tính thuần túy tư biện” mà ông đã sử dụng trong các tác phẩm triết học trước đó. Với mục đích sử dụng đó, ông cũng muốn phân định một cách rõ ràng ranh giới mà lý tính thực hiện năng lực của nó. Theo Kant, giữa lý tính thực hành và lý tính tư biện có sự (LUAN.KANT TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.KANT khác nhau về nhiệm vụ, mục đích và lĩnh vực hoạt động.
Ông cho rằng, lý tính tư biện có nhiệm vụ thiết lập những nguyên tắc từ những dữ liệu cảm tính về sự vật với mục đích hướng tới nhận thức bản thân sự vật đó. Quá trình này được ông mô tả như sau: lý tính bắt đầu từ những dữ liệu cảm tính vốn có thể trực quan, đi đến thiết lập những khái niệm và cuối cùng, hình thành những nguyên tắc để tiến tới nhận thức các sự vật trong thế giới cảm tính. Với đặc điểm như vậy, theo Kant, lý tính tư biện chỉ có thể phát huy năng lực của nó trong lĩnh vực kinh nghiệm, tức là nhận thức bề ngoài của những đối tượng cảm tính, còn trong lĩnh vực của những “vật tự thân” thì nó hoàn toàn bị giới hạn (lý tính tư biện hoàn toàn không thể giúp con người nhận thức về “những cái thực chất đứng đằng sau các sự vật”). Ông viết: “Bên ngoài những đối tượng của kinh nghiệm, tức là liên quan đến những sự vật xét như những “Noumenen” [những Vật - tự thân], việc bác bỏ mọi nhận thức khẳng định đối với lý tính tư biện là hoàn toàn đúng đắn… Tất nhiên, lý tính này không thể mang lại cho ta bất kỳ sự mở rộng nhất định nào về nhận thức của ta đối với những đối tượng như thế, trái lại, hoàn toàn cắt đứt mọi triển vọng [nhận thức xác định] về chúng” [7, tr.
Còn, lý tính thực hành có nhiệm vụ thiết lập những nguyên tắc đạo đức (những nguyên tắc thực hành) từ những châm ngôn của ý chí không phải với mục đích nhận thức các sự vật cảm tính, mà để “quy định” ý chí của con người. Ông viết: “Lý tính thuần túy là thực hành do tự nơi chính mình và mang lại (cho con người) một quy luật phổ biến được ta gọi là quy luật luân lý” [7, tr. Do đó, lý tính thực hành không làm việc với những dữ liệu cảm tính về sự vật, mà chỉ làm việc với những châm ngôn của ý chí. Ông viết: “Lý tính - vốn không thể bị đồi bại và có tính tự chế - lúc nào cũng đối chiếu châm ngôn của ý chí với ý chí thuần túy trong bất kỳ hành vi nào, nghĩa là với chính mình, bằng cách xem chính mình như là có tính thực hành một cách tiên nghiệm” [7, tr.
Như vậy, trong quan niệm của Kant, lý tính thực hành là lý tính hoạt động trong lĩnh vực đạo đức (lĩnh vực thực hành) có khả năng thiết lập những nguyên tắc đạo đức quy định ý chí của con người. Ông viết: “… lý tính thuần túy có thể là thực hành, nghĩa là, có thể trực tiếp quy định ý chí mà thôi” [7, tr.KANT TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.KANT Vậy, tại sao những nguyên tắc đạo đức mà lý tính thực hành thiết tạo lại được Kant coi là cơ sở quy định ý chí của con người? Trong các tác phẩm đạo đức học của mình, Kant đã luận giải rất rõ về vấn đề này. Ông cho rằng, trong quá trình thiết lập những nguyên tắc đạo đức, lý tính thực hành đã tiến hành loại bỏ toàn bộ những gì liên quan đến kinh nghiệm ra khỏi những nguyên tắc này và chỉ giữ lại hình thức thuần túy của chúng. Vì thế, những nguyên tắc này có được tính chất tiên nghiệm và vô điều kiện làm cơ sở quy định ý chí trước sự chi phối của những “ham thích sinh lý” và động cơ cảm tính bên ngoài.
Kant tin rằng, những nguyên tắc hiển nhiên và chắc chắn như vậy sẽ buộc ý chí con người phải tuân theo mệnh lệnh của lý tính, nhờ đó, con người có thể làm chủ hành vi của chính mình trong mọi tình huống của cuộc sống. Ông viết: “lý tính thuần túy có thể là thực hành, nghĩa là, có thể tự mình quy định ý chí một cách độc lập với cái gì thường nghiệm - và chứng minh điều này bằng một Sự kiện (Faktum), trong đó lý tính thuần túy nơi ta tự thể hiện chính mình một cách thực hành, đó là sự tự trị tỏ rõ trong nguyên tắc cơ bản của luân lý, nhờ đó lý tính quy định ý chí trong hành động” [7, tr. Kant còn khẳng định rằng, những nguyên tắc đạo đức chỉ có thể trở thành cơ sở quy định ý chí khi mà lý tính thực hành kiên quyết loại bỏ mọi “sự pha trộn” với những yếu tố kinh nghiệm trong những nguyên tắc này, thậm chí đó là “sự pha trộn” nhỏ nhất; bởi theo ông, mọi “sự pha trộn” đều dẫn đến nguy cơ phá vỡ những nguyên tắc đạo đức cũng như “sự tự trị của lý tính”. Ông viết: “mọi cơ sở quy định của ý chí - ngoại trừ duy nhất là quy luật của lý tính thuần túy thực hành (quy luật luân lý) - đều có tính thường nghiệm, và, vì thế, với tư cách ấy, thuộc về nguyên tắc của hạnh phúc, nên tất cả chúng đều phải được tách biệt khỏi nguyên tắc tối cao của luân lý và không bao giờ được kết hợp với nó như là một điều kiện, bởi điều này sẽ phá hủy mọi giá trị luân lý, cũng giống như bất kỳ sự pha trộn thường nghiệm nào vào những nguyên tắc hình học ắt sẽ thủ tiêu mọi tính hiển nhiên vốn là điều tuyệt vời nhất trong toán học…” [7, tr.
167]; “…những tư tưởng về nghĩa vụ và quy luật luân lý nói chung không có sự pha trộn với những điều kiện thường nghiệm bên ngoài, chỉ có lý trí là duy nhất có (LUAN.KANT TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.KANT ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới trái tim con người hơn bất cứ một loại động cơ nào khác (cái mà cần đến lĩnh vực kinh nghiệm), lý trí và chân giá trị của nó xem thường những yếu tố kinh nghiệm và trở thành ông chủ của chúng; mặt khác, một học thuyết luân lý mà trong đó có sự pha trộn các động cơ cảm tính, sở thích với những khái niệm của lý tính, sẽ làm cho ý chí của chúng dao động giữa các động cơ đó (cái mà không được điều khiển bởi bất cứ nguyên tắc nào), và ngẫu nhiên dẫn chúng ta đi đến những hành động tốt, và cũng có thể thường xuyên dẫn chúng ta đi đến những hành động tội lỗi” [7, tr. Với quan niệm như vậy, Kant đã cho chúng ta thấy rằng, những nguyên tắc đạo đức mà lý tính thực hành thiết lập hoàn toàn có đủ thẩm quyền để đảm nhận vai trò là cơ sở quy định ý chí của con người. Với Kant, lý tính thực hành nhờ vào những nguyên tắc đạo đức còn có khả năng thiết lập một “thế giới siêu cảm tính” (“thế giới trí tuệ”) trong lòng thế giới cảm tính (“thế giới tự nhiên”). Ông viết: “Quy luật luân lý” “…mang lại cho thế giới của giác quan - vốn là một hệ thống về tự nhiên - hình thức của một thế giới của giác tính, tức là của một hệ thống siêu-cảm tính về tự nhiên mà không hề vi phạm đến cơ chế [máy móc] của thế giới cảm tính” [7, tr.
Theo ông, đó là thế giới thuần túy của lý tính và những nguyên tắc đạo đức mà nó thiết lập, độc lập hoàn toàn với những động cơ hay quy luật của thế giới cảm tính. Mặc dù vậy, “thế giới siêu cảm tính” vẫn được coi là cơ sở (nguyên nhân) quy định sự tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới cảm tính. Chính vì thế, Kant gọi “thế giới siêu cảm tính” là “thế giới nguyên mẫu”, còn thế giới cảm tính là “thế giới bản sao”. Đến đây, chúng ta thấy rằng, lý tính thực hành hoàn toàn không quan tâm đến việc mô tả thuộc tính của các sự vật để nhận thức về chúng, mà chỉ chuyên tâm vào việc tìm kiếm cơ sở tận cùng (nguồn gốc nguyên thủy) của các sự vật đó.
Ông viết: Lý tính thực hành “không đòi hỏi phải giải thích làm sao những đối tượng của quan năng ham muốn lại có thể có được” [7, tr. 76], mà “làm sao nó có thể là một cơ sở quy định trực tiếp của ý chí, tức là, của tính nhân quả của hữu thể có lý tính về phương diện tính hiện thực của những đối tượng” [7, tr. Theo đó, cũng có thể nói rằng, lý tính thực hành (LUAN.KANT TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.KANT có khả năng dẫn dắt con người nhận thức về “những cái thực chất đứng đằng sau các sự vật”, tức là xâm nhập vào lĩnh vực “vật tự thân”.