Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN RA ĐỜI VÀ THỰC CHẤT VẤN ĐỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU TRUNG CỔ 1. Điều kiện, tiền đề ra đời quan niệm của các nhà triết học trung cổ Tây Âu về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí 1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí Vào những năm đầu công nguyên, ở các nước Tây Âu có sự chuyển biến căn bản trong xã hội. Đó là sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và sự ra đời của chế độ phong kiến, do những cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt diễn ra trong thời kỳ khủng khoảng của chế độ nô lệ kết hợp với các cuộc tấn công của những man tộc bên ngoài.
Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu được đánh dấu bằng thời điểm sụp đổ của tây bộ đế quốc La Mã năm 476 và kết thúc khi xuất hiện các hình thức ban đầu của chủ nghĩa tư bản (thế kỷ XV). Một loạt nhà nước phong kiến vốn là các tỉnh thành của đế quốc La Mã đã hình thành như Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Đức… Quá trình hình thành chế độ phong kiến ở Tây Âu được biểu hiện ở ba mặt chủ yếu: sự lãnh địa hoá toàn bộ ruộng đất trong xã hội, quá trình nông nô hoá giai cấp nông dân và trang viên hoá nền kinh tế. Trong giai đoạn đầu của sự chuyển biến từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến ở các nước Tây Âu, nền kinh tế - xã hội bị suy sụp nghiêm trọng. Trong kinh tế, ngành nông nghiệp (gồm trồng trọt và chăn nuôi) chiếm địa vị thống trị.
Sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về ruộng đất. Các thế lực quý tộc phong kiến chiếm giữ toàn bộ ruộng đất, đồng cỏ, rừng rú. lập thành các lãnh địa phong kiến. Các lãnh chúa phong kiến khống chế hầu hết các hoạt động kinh tế trong xã hội như sản xuất nông 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp, tổ chức các xưởng thủ công, đặt các loại thuế để bóc lột người lao động.
Đời sống của người nông nô hết sức thấp kém, tối tăm. Phản ánh tình trạng này, Ph.Ănghen viết: “Sự cướp bóc của quý tộc đối với nông dân mỗi năm một tinh vi hơn. Nông nô bị bóp nặn đến giọt máu cuối cùng, những nông dân phụ thuộc phải gánh thêm những khoản thuế và đảm phụ mới với mọi lý do và dưới mọi tên gọi. Lao dịch, địa tô, phù thu lạm bổ, thuế thay đổi chủ, thuế di sản, tiền bảo hộ.
tăng lên một cách độc đoán, bất chấp tất cả mọi hợp đồng cổ” [5, tr. Đến giữa thời kỳ trung cổ, thủ công nghiệp có bước phát triển, nhiều ngành nghề mới ra đời với trình độ kỹ thuật ngày càng hoàn thiện. Đó là các nghề khai mỏ, luyện kim, chế tạo vũ khí, thuộc da, dệt len dạ. Sự tiến bộ ấy của thủ công nghiệp đòi hỏi phải có những người thợ thủ công chuyên môn hoá, đồng thời phải biến thủ công nghiệp từ một nghề phụ của nông nghiệp thành một ngành độc lập.
Chính sự tách rời giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp ấy là điều kiện quan trọng dẫn đến sự ra đời của thành thị thời trung đại ở Tây Âu. Các thành thị, các xưởng sản xuất thủ công và những tầng lớp, giai cấp mới trong xã hội như chủ xưởng, thương nhân, thợ thủ công xuất hiện, dần dần trở thành đối thủ của tầng lớp quý tộc ruộng đất. Tình hình nông nghiệp cũng có nhiều tiến bộ như nông cụ được cải tiến, diện tích canh tác không ngừng được mở rộng, năng suất lao động tăng cao, sản lượng và số chủng loại sản phẩm tăng lên nhiều. Đến thế kỷ VI, thương mại cũng bắt đầu sống lại.
Những trung tâm thương mại đầu tiên hình thành ở Venise. Khi các điền chủ nhận ra rằng mình có thể thu tiền lời bằng việc bán một loại nông sản nào đó, ông ta bắt đầu trồng nông sản đó nhiều hơn và dùng số tiền bán nông sản đó để mua những nông sản mà ông ta không có [13, tr. Khi đó, nhu cầu của con người ngày càng cao, kỹ nghệ ra đời. Và sự phục hồi của thương mại cùng với 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những khởi đầu của kỹ nghệ đã đưa đến sự hình thành các thành phố, những người thợ chẳng bao lâu cũng được tổ chức thành phường hội, những phiên chợ lớn được hình thành.
Sự biến chuyển về kinh tế như trên ảnh hưởng lớn đến đặc điểm xã hội Tây Âu trung cổ. Trong đời sống xã hội Tây Âu trung cổ, sự phân hoá giai cấp diễn ra sâu sắc: “Đặc điểm của xã hội phong kiến ở các nước Tây Âu là có một cái thang tôn ti trật tự phức tạp - từ những kỵ sĩ phổ thông qua những công tước. và đến vua hay hoàng đế; đó là một cái thang mà cái chân của nó dựa vào số quần chúng nông dân phụ thuộc bị bóc lột tàn nhẫn, và sau đó dựa vào những thợ thủ công nhỏ” [79, tr. Sự phân hóa này còn được thể hiện ngay trong tầng lớp tăng lữ: “Giới tăng lữ cũng chia thành hai giai cấp hoàn toàn khác nhau.
Hệ tôn ti của giáo hội phong kiến hình thành nên giai cấp quý tộc: giám mục và tổng giám mục, trưởng tu viện, giáo chủ và các giáo chức cao cấp khác. Các giáo chức cao cấp đó của giáo hội đều hoặc giả tự mình là những vương công của đế chế, hoặc giả là những chúa phong kiến phục tùng chính quyền tối cao của những vương công khác và chiếm hữu những vùng đất đai rộng lớn có nhiều nông nô và dân cư lệ thuộc” [5, tr. Mặc dù có sự phân hóa, nhưng nhìn chung xã hội Tây Âu trung cổ gồm hai giai cấp cơ bản: nông dân và quý tộc phong kiến. Trong đó, giai cấp quý tộc nắm trong tay nhiều tiền của, ruộng đất, còn giai cấp nông dân thì bị phụ thuộc một cách nhục nhã về cá nhân và về kinh tế.
Nông dân phải lao động quần quật từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn. Cuộc sống của họ vô cùng khổ cực: nhà ở thường là một nơi tồi tàn, dơ dáy, làm từ các tấm liếp trát bùn; giường ngủ thường là cái thùng độn đầy rơm; ghế ngồi là chiếc ghế đẩu ba chân; thức ăn là chiếc bánh mì đen, pho mát và súp, thịt và cá muối được nấu qua loa, bị thối rữa một nửa. Những người nông dân được nhắc đến như 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những sinh vật bị khinh miệt – những sinh vật chậm hiểu, bần tiện, xấu xí, được sinh ra rừ “đống phân lừa”… Cùng với sự thống trị của quý tộc phong kiến, giới tăng lữ, Giáo hội cũng trở thành một lực lượng đầy quyền uy, nắm trong tay cả thần quyền, quyền lực về kinh tế và quyền lực về chính trị. Giáo hội Kito giáo chiếm hữu khoảng một phần ba đất đai ở châu Âu và một số lượng lớn nông nô.
Mỗi Giáo hội có một tu viện và cả trăm thôn xã phụ thuộc với hàng vạn hécta đất, hàng chục vạn nông nô. Giáo hội được vua chúa ban tặng rất nhiều ruộng đất và tài sản. Ngay từ thế kỷ XII - XIII, quyền lực của Giáo hoàng đã rất lớn. Giáo hoàng Inocento III viết: “Chúng ta được phó sứ mệnh thống trị mọi người và mọi nước”, “Giáo hoàng mang lại vinh quang và uy tín cho vương quyền như mặt trời đem lại ánh sáng cho mặt trăng”, “Giáo hoàng là đại diện cho Thượng đế trên trái đất, không những là chủ của tăng lữ mà cũng là thủ lĩnh của hoàng đế nữa” [71, tr.
Tài sản, quyền lực của Giáo hoàng và Giáo hội ngày càng lớn mạnh nhờ những chính sách như: lập ra quỹ “nhà thờ thập tự” để quyên tiền chuẩn bị cho “thập tự chinh” hay chính sách bán thẻ “miễn tội”. Theo tuyên truyền của Giáo hội, họ có thể xá tội cho những kẻ tội lỗi, giúp họ thoát khỏi nhục hình ở địa ngục, do đó người nào mua được thẻ thì có thể thoát tội, thậm chí khi chết có thể được lên thiên đàng. Đặc biệt, ở Đức, Giáo hoàng và Giáo hội hoành hành cực kỳ mạnh mẽ, giáo hội chiếm 1/3 diện tích ruộng đất, bóc lột nhân dân vô cùng tàn tệ. Hàng năm, tiền của chở từ Đức sang La Mã rất nhiều, trong khi đó nông dân nhiều nơi chết đói, dân nghèo thành thị không có việc làm, đời sống thiếu thốn khổ cực.
Trước tình hình đó, nhiều tầng lớp nhân dân đều oán hận Giáo hội, thậm chí có những nơi diễn ra phong trào chống Giáo hội: phong trào dưới sự lãnh đạo của các nhà nhân văn chủ nghĩa như: Erasmus, Unrich von Hutten. Để chống lại sự phản kháng của nhân dân, Giáo hoàng và Giáo hội đã thực hiện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những chính sách tàn khốc, hàng loạt tòa án dị giáo được lập ra, rất nhiều giáo dân bị thiêu sống trên cột lửa. Do ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế - xã hội nên hệ tư tưởng thống trị suốt hàng thế kỷ trong đời sống xã hội Tây Âu trung cổ là Kito giáo với hai biến thể của nó là đạo Chính thống và Kito giáo La Mã. Kito giáo thời kỳ đầu tiên là tôn giáo của người nghèo, đồng thời là tôn giáo của sự phản kháng chống lại trật tự hiện hành hà khắc, phi nhân tính.
Sự ra đời của Kito giáo trong xã hội La Mã lúc đó có thể được xem là một hiện tượng cách mạng. Bởi nó xoá bỏ sự phân biệt giàu nghèo, đề cao tính dân chủ trong sinh hoạt cộng đồng, tuyên truyền nguyên lý về sự bình đẳng; tư tưởng Kito giáo chủ trương xây dựng một thế giới mới, khắc phục tội lỗi, sự đố kỵ và thù hận, đáp ứng những mong muốn thầm kín của đại bộ phận quần chúng. Mặc dù thế giới trong Kinh Thánh vẽ ra là hoang tưởng, tách khỏi mảnh đất trần tục, nhưng nó đem đến cho con người niềm an ủi, giúp họ quên đi những nỗi đau thể xác và tinh thần. Điều đó có nghĩa là với sự ra đời của Kito giáo, trong ý thức con người đã diễn ra sự chuyển biến từ phản kháng bạo lực sang phản kháng đạo đức.
Kito giáo cảm nhận sự thiếu hoàn thiện và thiếu nhân tính trong các quan hệ xã hội đương thời như kết quả của sự thiếu hoàn thiện trong mỗi người, do đó lấy tinh thần hoà giải và tha thứ để cảm hoá họ: “.