đặt vấn đề về tính chân xác của sự tình: có lẽ, có thể, huống chi, huống hồ… Nhận xét chung: Trên đây là những nội dung cơ bản về vấn đề tình thái. Đây là một vấn đề nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Chúng tôi đã dành một số lượng trang khá dài để trình bày và làm rõ vấn đề này ở tất cả các mặt: nội dung khái niệm, các kiểu loại tình thái, các phương tiện biểu đạt. Đây là vấn đề trọng tâm liên quan trực tiếp đến đề tài là tìm hiểu về định ngữ tình thái- loại định ngữ hoạt động với tư cách là một thành phần phụ của câu.
Định ngữ câu với tƣ cách là thành phần biểu thị tình thái trong câu 1. Định ngữ và các quan điểm về định ngữ Trong Việt ngữ học, khái niệm định ngữ với tư cách là thành phần câu từng một thời được phổ biến trong các sách ngữ pháp nhà trường, dùng để chỉ yếu tố hạn định của danh từ trong một cấu trúc hạn định. Cương vị của nó trong mô hình cấu trúc câu được đặt ngang hàng với các thành phần phụ khác là bổ ngữ và trạng ngữ, đối lập với các thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan niệm này là sự ứng dụng rập khuôn ngữ pháp nhà trường của các ngôn ngữ châu Âu vào phân tích câu tiếng Việt.
Về sau do chịu ảnh hưởng của lý thuyết từ tổ, nhận thức được sự khác biệt giữa thành phần của từ tổ và thành phần của câu, các nhà nghiên cứu đã từ bỏ quan niệm này. Theo đó, những định ngữ được hiểu theo định nghĩa trên thì chỉ được coi là thành phần của từ tổ danh từ chứ không phải thành phần câu. Khái niệm định ngữ được nêu trong đề tài sẽ được hiểu theo hướng mà nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Thuyết nêu ra: “Định ngữ câu là thành tố có quan hệ với cả câu nói chung, như các thành phần phụ khác nhưng không có những đặc trưng hình thức của chúng” [Luận án Chủ ngữ trong tiếng Việt- Nguyễn Minh Thuyết]. Tác giả Panfilov lại quan tâm đến phương diện khả năng tham gia vào cấu trúc phân đoạn thực tại và vị trí trong mô hình câu.
Theo tác giả này “ Định ngữ câu không thể làm phần chủ đề hoặc phần thuật đề, tức là bao giờ cũng đứng ngoài sự phân đoạn thực tại câu…Định ngữ câu hoặc đứng ở vị trí đầu câu hoặc đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ, và về mặt ngữ âm thì gắn liền với vị ngữ”. Một số nhà nghiên cứu khác trong giới Việt ngữ học cũng chú ý đến thành phần này là Diệp Quang Ban và Cao Xuân Hạo. Diệp Quang Ban gọi thành phần này là “phụ ngữ của câu”, dùng để biểu thị các ý nghĩa về quan hệ có liên quan với nội dung phần câu còn lại. Các mối quan hệ này được Diệp Quang Ban chia ra thành 3 loại chính: quan hệ của hiện thực khách quan với nội dung câu nói (gọi tắt là quan hệ khách quan); quan hệ của người nói đối với nội dung câu nói (gọi tắt là ý nghĩa tình thái chủ quan) và quan hệ của người nói đối với người nghe.
Theo 3 mối quan hệ này, Diệp Quang Ban chia ra 3 loại phụ ngữ là: + Phụ ngữ câu có ý nghĩa khách quan: gồm hai tiểu loại là phụ ngữ câu chỉ quan hệ khẳng định (dùng để xác định sự có mặt của toàn bộ điều được nêu lên trong phần còn lại vơi tư cách là phần cốt lõi của câu; thường đứng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trước nòng cốt câu hoặc có khi cuối câu) và phụ ngữ câu chỉ quan hệ phủ định (dùng để xác định sự vắng mặt của toàn bộ điều được nêu lên trong phần câu còn lại với tư cách là phần cốt lõi của câu. Phụ ngữ câu phủ định thường đứng trước nòng cốt câu; chỉ đứng cuối câu khi phần câu trước nó được nêu lên như một điều nghi vấn). + Phụ ngữ câu có ý nghĩa tình thái chủ quan: thể hiện thái độ của người nói đối với nội dung của phần còn lại trong câu. + Phụ ngữ câu nêu lời gọi đáp- đưa đẩy: Kiểu phụ ngữ này tách riêng ra thì thành câu đặc biệt, có thể đứng trước hoặc sau nòng cốt câu.
Theo nhiều học giả khác thì cách phân chia này của Diệp Quang Ban không được rõ ràng khi ông gộp quá nhiều sự thể khác nhau về ý nghĩa vào một tên gọi. Cũng bàn về thành phần này, Cao Xuân Hạo lại gọi thành phần này là “Siêu Đề”. Ông đã đứng trên lập trường ngôn ngữ học chức năng và khảo sát một số yếu tố tình thái làm thành Đề của câu. Theo ông, các yếu tố này “hoàn toàn đáp ứng với định nghĩa của một phần đề: đó là cái phạm vi ứng dụng của phần Thuyết tức phần còn lại của câu.
Do tính chất siêu ngôn ngữ của tình thái câu, có thể gọi thứ Đề này là siêu Đề” [Cao Xuân Hạo, 1991, tr176]. Ông dùng “thì- là” như hai tác tử phân giới những yếu tố tình thái này. Ví dụ: Nói chung (thì) kết quả cũng khả quan. Xét cho cùng (thì) lỗi cũng là do mình chủ quan.
Quả nhiên (là) nó đã ăn cắp tiền của tôi. Dường như (là) ai nấy đều không dự kiến được chuyện này. Dù được gọi với các tên khác nhau, nhưng có thể thấy 3 đặc điểm chính của định ngữ với tư cách là thành phần câu là: i) thường đứng ở vị trí đầu câu; ii) biểu thị các ý nghĩa hạn định về tình thái và cách thức diễn biến của sự tình, và iii) hoạt động với tư cách là một thành tố trong mô hình cấu trúc câu. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vậy Định ngữ khi được nhìn nhận như một thành phần câu có những đặc điểm gì? - Về vị trí: Định ngữ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ.
Mặc dù vị trí của định ngữ có thể được thay đổi linh hoạt mà không làm ảnh hưởng đến cấu trúc ngữ nghĩa của câu nhưng nó cũng sẽ liên quan đến sự thay đổi thông tin phân đoạn câu. Theo Nguyễn Văn Hiệp, “định ngữ câu không tham gia cấu tạo phần chủ đề hay phần thuật đề nhưng nó có thể có tác dụng đánh dấu, báo hiệu ranh giới của sự phân đoạn này” [Thành phần câu tiếng Việt, tr 306]. Khi đứng trước nòng cốt câu, định ngữ câu là chỉ tố cho biết câu có thông báo gộp (còn gọi là thông tin sự kiện) tức là câu chỉ có phần thuật đề. Còn khi đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ, định ngữ câu có thể báo hiệu ranh giới giữa phần chủ đề và phần thuật đề.
Xét ví dụ sau: Thật u mày quáng nắng nên trông gà hóa cuốc. Thuật đề → Định ngữ đứng trước thuật đề Nếu thay đổi vị trí, ta có phát ngôn sau: U mày thật quáng nắng nên trông gà hóa cuốc. (Chủ đề) Thuật đề Trong trường hợp này GS Nguyễn Văn Hiệp so sánh định ngữ câu với tác tử phân giới “thì- là”. Điểm giống nhau là định ngữ câu cũng có chức năng của một phương tiện chuyên đánh dấu ranh giới phân đoạn thực tại câu như “thì- là”.
Tuy nhiên, nó khác với các thành tố khác ở chỗ định ngữ câu là một thành phần câu thực thụ, có hình thức có cấu trúc và có nghĩa. Chức năng đánh dấu phân đoạn thực tại chỉ là chức năng thứ yếu. - Về mặt nội dung: Định ngữ câu biểu thị 2 loại ý nghĩa là ý nghĩa hạn định về cách thức và ý nghĩa hạn định về tình thái cho sự tình được biểu đạt trong câu. Trong đó, loại ý nghĩa hạn định về tình thái được luận văn tập 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung làm rõ trong suốt luận văn.
Còn ý nghĩa hạn định về cách thức diễn ra sự tình là thông tin cho biết sự tình được diễn ra như thế nào (nhanh hay chậm, đột ngột hay không, bất ngờ hay có tiên liệu từ trước. Các định ngữ câu hạn định cách thức diễn ra sự tình này đều có hàm ý tình thái thực hữu. Vì thế không thể thêm vào câu những chỉ tố đánh dấu tình thái không thực hữu. Ý nghĩa hạn định về tình thái là thông tin cho biết sự tình được nêu có tính chân lý tương đối hay tuyệt đối, là đương nhiên hay không đương nhiên, chắc chắn hay chỉ là phỏng đoán, là bình thường hay cùng cực, hiện thực hay phi hiện thực, đáng mong muốn hay không….Các định ngữ hạn định tình thái này là phương tiện hữu hiệu để người nói tác động vào nội dung mệnh đề, nhằm thực hiện chiến lược giao tiếp nhất định.
Ví dụ, xét phát ngôn sau: -“Thật tình thì tôi không biết”. Trong câu này, người nói ngoài việc khẳng định một sự tình thực hữu (Tôi không biết) thì còn đánh tan nhận định đối lập của người nghe, từ đó tạo ra hiệu quả mượn lời khiến người nghe tin vào điều khẳng định của mình. Phân biệt định ngữ câu với các thành tố khác trong câu 1. Phân biệt định ngữ câu với các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản Xét các ví dụ sau: Thế mà nó đã làm được gì để đền đáp công ơn bố mẹ? Rồi bà Nghị nhổ toẹt miếng bã trầu xuống đất.
Những yếu tố này cũng như định ngữ câu có thể bị lược bỏ mà không làm ảnh hưởng đến tính trọn vẹn của câu. Nhưng các thành tố này lại khác với các định ngữ câu vì quan hệ của nó với nòng cốt là quan hệ “cận cú pháp” [theo V. Những yếu tố này có chức năng liên kết câu chứa chúng với các câu khác trong văn bản và ở phương diện nào đó, có thể làm chính 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xác thêm quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu (các phát ngôn) cụ thể với ngữ cảnh và với những câu đi trước. Cũng đồng quan điểm với Panfilov, nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo làm rõ hơn vấn đề này: “tất cả các quan hệ ngữ pháp có thể có được đều chỉ có trong phạm vi câu.
Trong những ngôn từ hay văn bản gồm hai câu trở lên, giữa câu này với câu kia có thể có mối quan hệ về đề tài, về ý tứ nhưng không thể có những mối quan hệ ngữ pháp” [Cao Xuân Hạo 1991, tr12] Những yếu tố liên kết thuộc cấu trúc bậc trên câu không bổ sung ý nghĩa cho nòng cốt câu mà chỉ biểu thị những quan hệ về đề tài và ý tứ giữa các câu với nhau.