Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỢP TÁC GIÁO DỤC GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN TỪ 2002 ĐẾN 2018 1. Các nhân tố ngoại sinh Nhân tố ngoại sinh bao gồm những yếu tố bên ngoài tác động lên mối quan hệ giữa các quốc gia. Có thể hiểu nhân tố ngoại sinh là các yếu tố về môi trường quan hệ quốc tế, khu vực như: cục diện khu vực, thế giới, xu hướng toàn cầu hóa, cạnh tranh khoa học kỹ thuật, sự ảnh hưởng từ chính sách đối ngoại của các nước khác, nhất là các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc,… Nhân tố nội sinh bao gồm những yếu bên trong mỗi quốc gia như tình hình chính trị, nguồn lực kinh tế, nền tảng văn hóa, xã hội, tiềm lực quốc phòng, các chính sách chủ trương đường lối của đảng cầm quyền,.
tác động tới tiến trình phát triển của quốc gia đó. Nhân tố nội sinh trong quan hệ Việt - Nhật nói chung và hợp tác giáo dục nói riêng không chỉ là những yếu tố nội tại của mỗi quốc gia mà còn bao gồm các yếu tố chung tạo ra mối liên kết hay đặt nền tảng cho quan hệ: như yếu tố lịch sử (Mối quan hệ đó đã bắt đầu từ bao giờ trong quá khứ và phát triển ở hiện tại ra sao?), yếu tố địa lý (hai nước có cùng thuộc một khu vực không? Việc gần nhau về mặt địa lý có vai trò như thế nào trong quan hệ giữa hai nước?. Nhìn chung việc nghiên cứu nhân tố tác động đến quan hệ giáo dục Việt Nhật giúp ta có cái nhìn tổng quan hơn về mối quan hệ, xác định được mức độ ảnh hưởng, cách thức ảnh hưởng của từng nhân tố để có thể đưa ra những đánh giá và đề xuất thuận lợi cho sự phát triển quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam và Nhật Bản. Xu hướng hợp tác giáo dục trên thế giới Giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự đi lên của mỗi quốc gia bởi sứ mệnh cao cả của giáo dục là đào tạo nhân tài tiếp nối sự nghiệp phát triển đất nước.
Trong những thập kỉ gần đây, sự phát triển và thay đổi 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của các xu hướng thế giới đặc biệt là xu hướng coi trọng kinh tế, thương mại, cạnh tranh về khoa học công nghệ đã và đang ảnh hưởng đáng kể đến nền giáo dục của tất cả các quốc gia trên thế giới. Vấn đề đổi mới giáo dục được các quốc gia quan tâm hơn bao giờ hết. Các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu một mặt ngày càng quan tâm để giảm thiểu những hạn chế trong các cách tiếp cận giáo dục truyền thống, bó hẹp trong mối quan hệ của mỗi quốc gia, mặt khác, cũng kêu gọi thiết lập quan hệ hợp tác giáo dục với nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền khoa học, công nghệ tiên tiến. Mỗi quốc gia muốn nâng cao phát triển nền khoa học công nghệ của nước mình đòi hỏi phải tiếp cận nền khoa học tiến bộ từ những quốc gia khác, theo đó hoạt động hợp tác giáo dục sẽ càng được đẩy mạnh.
Thực chất cạnh tranh khoa học công nghệ là nhằm đổi mới tư duy tiếp cận với nền tri thức hàng đầu góp phần phát triển đất nước. Qua đó có thể thấy cạnh tranh giữa các quốc gia về khoa học công nghệ, thực chất là cạnh tranh về giáo dục, để tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao, có khả năng thích ứng trong môi trường khoa học, kỹ thuật phát triển và góp phần nâng cao nền khoa học, kỹ thuật nước nhà. Mặt khác, trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay với những thành tựu vượt trội của khoa học kỹ thuật đã đưa thông tin truyền đi nhanh và xa hơn, các quốc gia không còn độc lập về thông tin nữa. Do vậy công dân của họ có cơ hội tiếp cận nhanh chóng nguồn tri thức vô tận từ thế giới Internet, những chương trình giáo dục từ các nước phát triển đến gần với họ hơn bao giờ.
Sở hữu một nền khoa học công nghệ mạnh giúp các quốc gia thuận lợi hơn trong việc quảng bá chương trình giáo dục, thu hút nhân tài trong bối cảnh cạnh tranh trên thế giới đang ngày càng khốc liệt. Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, các quốc gia không ngừng giao lưu kinh tế, văn hóa, giáo dục. Dưới ảnh hưởng của sự trao đổi nguồn nhân lực xuyên quốc gia một cách thường xuyên, giáo dục càng trở thành một vấn đề quan trọng. Toàn cầu hóa giúp tạo ra một kỷ nguyên hội 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhập giữa các dân tộc, thúc đẩy quan hệ giữa các công dân từ các quốc gia trên mọi lĩnh vực văn hóa - giáo dục, kinh tế - thương mại.
Bên cạnh đó, toàn cầu hóa còn thúc đẩy các chương trình hợp tác xuyên quốc gia, trong giáo dục, đó có thể là chương trình trao đổi sinh viên, trại hè quốc tế, chương trình giảng dạy đào tạo từ xa,…Trước tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, thế giới xuất hiện một nhóm những công dân toàn cầu. Họ là những người sống và làm việc tại các quốc gia khác nhau, có thể có nhiều quốc tịch, hoạt động trong các công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ. Một số tổ chức giáo dục tiên tiến trên thế giới (chủ yếu ở bậc sau đại học) đã bắt đầu xây dựng chương trình/giáo trình giảng dạy chuẩn bị và rèn luyện phẩm chất cá nhân cho thế hệ công dân toàn cầu này, ví dụ chương trình Oxfam UK. Kiến thức và kinh nghiệm mà những công dân toàn cầu có được là từ thực tiễn cuộc sống và quá trình rèn luyện của họ ở nhiều quốc gia khác nhau.
Những con người này vừa học tập vừa hỗ trợ đào tạo, tham gia giảng dạy trên khắp thế giới. Nhu cầu và khả năng phục vụ cho nền giáo dục quốc tế của các thế hệ công dân toàn cầu đã góp phần thúc đẩy giao lưu giáo dục trên thế giới. Bên cạnh đó, không thể bỏ qua yếu tố quan trọng là hình thái của thế giới hiện nay. Có thể khi nhắc tới cục diện thế giới,quan điểm nhất siêu đa cường đã trở nên phổ biến (Một siêu cường đứng đầu là Mỹ với những cường quốc nhỏ hơn bên cạnh như Trung Quốc, Nga, EU, Nhật Bản,…) nhưng gần đây một khái niệm đã mới ra đời áp dụng đúng hơn với cục diện thế giới hiện đại “Mạng đa trung tâm”.
“Mạng đa trung tâm” miêu tả môi trường quan hệ quốc tế với các nước lớn nổi lên các trung tâm và các nước nhỏ là những điểm mạng có sự liên kết với nhau và giữa các quốc gia có sự trùng lặp lợi ích (mạng). Cụ thể, trong lĩnh vực giáo dục, khi nền giáo dục ở một quốc gia đối mặt với thách thức thì các quốc gia khác có nguy cơ bị ảnh hưởng rất cao. Ví 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụ như những dòng người di cư bất hơp pháp đến các quốc gia khác không được trang bị tri thức đầy đủ, thiếu kĩ năng làm việc có thể là mầm mống tội phạm và khủng bố đe dọa an ninh quốc gia khác. Qua đó, có thể thấy do sự trùng lặp lợi ích, vấn đề của một quốc gia có thể trở thành vấn đề của toàn thế giới, cần có sự chung tay hợp tác giữa các nước với nhau, đặc biệt là trong việc bảo đảm các quyền con người trong đó có quyền được học tập.
Hơn thế, các nước còn phải tích cực cùng nhau giải quyết vấn đề toàn cầu, đặc biệt là trong ngành giáo dục như: nạn mù chữ, bình đẳng giới trong giáo dục,. bởi đây là những vấn đề chung của thế giới, không có quản trị toàn cầu và sự hợp tác xuyên quốc gia sẽ không thể giải quyết được. Kết quả tất yếu của nó là sự ra đời của các tổ chức quốc tế về giáo dục như: Quốc tế Giáo dục (EI), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO). Việc các quốc gia từ những nước phát triển hàng đầu, những nước đang phát triển đều có thành viên trong các tổ chức trên là minh chứng cho vai trò của giáo dục và tầm quan trọng của việc hợp tác giáo dục xuyên quốc gia.
Tất cả những đặc điểm trên nhằm khẳng định một điều: giáo dục đang có xu hướng mở rộng, coi trọng hợp tác, liên kết, coi trọng cải cách theo hướng toàn cầu hóa du nhập kiến thức từ bên ngoài để hòa nhập vào giai đoạn hội nhập của thế giới và khu vực nhưng không bỏ qua việc bảo tồn văn hóa và nền tảng tri thức giáo dục truyền thống ở mỗi quốc gia. Để làm được những điều này hợp tác và trao đổi giáo dục xuyên quốc gia hay còn được gọi là “quốc tế hóa nền giáo dục” là xu hướng chung mà tất cả các quốc gia ưu tiên trong chính sách của nước mình. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, rất nhiều quốc gia đang nỗ lực “quốc tế hóa” nền giáo dục. Đối với những nước đang phát triển, một mặt “quốc tế hóa giáo dục” góp phần nâng cao chất lượng, trải nghiệm học tập toàn cầu cho người học, thúc đẩy quá trình hội nhập trong khu vực và trên thế giới.
Mặt khác, việc tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm giáo dục của các nước 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và chú ý đến những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế sẽ giúp đất nước giảm bớt khó khăn, đi đúng hướng văn minh của thời đại. Đối với những nước phát triển, “quốc tế hóa giáo dục” giúp các quốc gia này “khai thác nguồn tài nguyên con người” ở những nước khác, thu nguồn lợi kinh tế từ việc thương mại hóa giáo dục đồng thời cũng nhằm tạo ra các ảnh hưởng nhất định, quảng bá sức mạnh mềm của nước mình để dễ dàng đạt được một số mục đích chính trị. Có thể lấy ví dụ về trường hợp của Trung Quốc, sự trỗi dậy của nước này trở thành mối đe dọa với hầu hết các nước trên thế giới, các quốc gia rất dè chừng đối với các chiến lược của Trung Quốc như “Vành đai- Con đường” hay “Chuỗi ngọc trai”. Thế nhưng, Trung Quốc bênh cạnh những công cụ về kinh tế, quốc phòng, đã khéo léo vận dụng quyền lực mềm, đặc biệt sử dụng các công cụ liên quan đến giáo dục nhằm quảng bá Hán ngữ và hình ảnh về một cường quốc “thân thiện”, văn hóa lâu đời, coi trọng tư tưởng “hài hòa” trong học thuyết Khổng Tử.