CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ MÔ HÌNH ARIMA 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1. Khái niệm về lạm phát Có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát, nhưng nhìn chung có ba khái niệm cơ bản sau: Thứ nhất, lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát là yếu tố tiền tệ. Đây là khái niệm do các nhà kinh tế học trường phái tiền tệ đưa ra.
Đại diện tiêu biểu cho nhóm này là nhà kinh tế học Freidman, M. Thứ hai, lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của nền kinh tế và nguyên nhân của lạm phát không chỉ do yếu tố tiền tệ mà còn bao gồm cả những nguyên nhân khác như biến động giá cả của nguyên liệu đầu vào quan trọng như giá năng lượng, vật liệu. Khái niệm này là của các nhà kinh tế học hiện đại, đại diện tiêu biểu là Samuelson, P. Với khái niệm này, Samuelson không đề cập đến sự tăng liên tục của mức giá chung như các nhà kinh tế học trường phái tiền tệ.
Tuy nhiên, khi nói đến lạm phát, ông cũng đã đặt nó trong mối quan hệ so sánh các chỉ số giá qua các thời kì, các năm khác nhau. Thứ ba, lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung hay sự giảm giá liên tục sức mua của đồng tiền. Đây là khái niệm hiện nay được hầu hết tác giả trong và ngoài nước sử dụng. Khái niệm thứ ba sẽ được sử dụng trong toàn bộ đề tài.
Với khái niệm này, biểu hiện của lạm phát là giá cả của hầu hết các hàng hóa trong nền kinh tế tăng lên một cách đồng thời và liên tục trong một khoảng thời gian đủ dài để có thể nhận rõ xu hướng này. Lạm phát không phải là hiện tượng giá cả của một vài hàng hóa hay nhóm hàng hóa nào đó tăng lên mà là sự tăng lên Luan van 6 của mức giá chung của nền kinh tế. Ngoài ra, việc tăng giá mang tính đột biến hay ngắn hạn không được xem là biểu hiện của lạm phát. Phân loại lạm phát Tùy vào các tiêu chuẩn khác nhau mà lạm phát được phân chia thành các loại khác nhau.
Phân loại lạm phát theo căn cứ định lượng - Thiểu phát: Là mức độ lạm phát thấp nhất, từ 0% đến không quá vài %. Loại lạm phát này phản ánh tính khách quan của hiện tượng lưu thông hàng hóa, tiền tệ trong chế độ tiền giấy. - Lạm phát vừa phải: Tỉ lệ lạm phát từ trên vài % đến dưới 10%, lớn hơn không nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm và kiểm soát được. Đây là mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được, những tác động của nó là không đáng kể.
- Lạm phát phi mã: Là lạm phát mà tỉ lệ lạm phát đạt đến 2 hoặc 3 con số, tức là từ 10% đến dưới 1000%. Ở mức 2 con số thấp thì các tác động tiêu cực không đáng kể và nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được. Nhưng khi tăng đến hai chữ số cao thì lạm phát sẽ làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về nền kinh tế. Lạm phát này rất khó để có thể kiểm soát được và gây hậu quả xấu đến nền kinh tế.
- Siêu lạm phát: Tỉ lệ lạm phát lên đến trên 1000%. Đây là mức độ lạm phát nguy hiểm nhất, nó có thể phá hủy toàn bộ hoạt động nền kinh tế, dẫn đến suy thoái nghiêm trọng. Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít xảy ra. Phân loại lạm phát theo căn cứ định tính Xét về định tính, lạm phát được nhà kinh tế học Samuelson, P.
phân thành hai loại như sau: - Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán được: Loại lạm phát này xảy ra khi toàn bộ giá cả của nền kinh tế đều tăng và tăng tương ứng với mức tăng Luan van 7 trong tiền lương thực tế, phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước. Do đó, loại lạm phát này không gây ảnh hưởng đến đời sống của người lao động và đến nền kinh tế nói chung. - Lạm phát không cân bằng và không được dự đoán trước: Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả của các loại hàng hóa, dịch vụ tăng không đều nhau, vượt xa mức tăng của tiền lương thực tế và không được dự đoán trước.
Đây là loại lạm phát gây thiệt hại cho người dân và nền kinh tế. Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghi. Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế. Đo lường lạm phát Lạm phát được đo lường bằng chỉ tiêu tỉ lệ lạm phát, thể hiện qua chỉ số giá cả.
Chỉ số giá cả là tỉ lệ giữa mức giá cả trung bình ở kỳ tính toán so với mức giá cả trung bình ở kỳ gốc của một nhóm hàng hóa nhất định. Tỉ lệ lạm phát là tỉ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình ở kỳ tính toán so với mức giá trung bình ở kỳ gốc. Tỉ lệ lạm phát = [mức giá cả chung trung bình (t) – mức giá cả chung trung bình (t0)] / mức giá cả chung trung bình (t0). Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất cho tỉ lệ lạm phát.
Vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào nhóm hàng hóa được chọn cùng quyền số gắn cho mỗi loại hàng hóa trong nhóm, việc chọn thời kỳ gốc và phạm vi khu vực kinh tế mà chỉ số được tính. Các chỉ số phổ biến được sử dụng trong đo lường lạm phát gồm: Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index - CPI): đo lường mức thay đổi giá cả chung của một số lượng cố định các loại hàng hóa, dịch vụ do người tiêu dùng điển hình mua (được gọi là “rổ hàng hóa”). Chỉ số CPI được sử dụng để tính tỉ lệ lạm phát của phần lớn quốc gia trên thế giới. Luan van 8 Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index - PPI): đo lường sự thay đổi mức giá mà các nhà sản xuất nhận được từ đầu ra, không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu.
Chỉ số lạm phát cơ bản: đo lường tốc độ tăng giá trung bình dài hạn mà đã loại bỏ các nhiễu ngẫu nhiên (như cú sốc về cung, áp lực tăng cầu) (Laider, 1990). Lạm phát cơ bản có thể được tính dựa trên chỉ số CPI sau khi đã loại bỏ một số hàng hóa, dịch vụ mà giá cả của nó biến động mạnh do các cú sốc. Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP deflator - DGDP): đo lường mức thay đổi giá cả chung của tất cả hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước. Tác động của lạm phát Nhiều nghiên cứu cho thấy, lạm phát có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tình hình kinh tế-xã hội theo những cách thức khác nhau, mức độ ảnh hưởng khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc của nền kinh tế, khả năng thích ứng với sự thay đổi liên tục của lạm phát và khả năng dự báo lạm phát.
Tác động tiêu cực của lạm phát Thứ nhất, lạm phát cao gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế. Khi lạm phát tăng cao và không được kiểm soát, giá đầu vào của sản xuất và giá đầu ra của sản phẩm biến động thường xuyên tạo ra môi trường kinh doanh không ổn định. Điều này sẽ dẫn đến đầu tư của doanh nghiệp giảm sút, làm giảm thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó sẽ làm giảm đầu tư trong chu kì tiếp theo … Hiệu ứng dây chuyền này sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế. Môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, đầu tư nước ngoài vào trong nước sẽ giảm mạnh và điều này thêm một nguyên nhân làm hạn chế tăng trưởng kinh tế và đây là một tác động rất đáng kể đối với các nước đang phát Luan van 9 triển như Việt Nam.
Khi lạm phát cao, giá cả bị bóp méo, làm biến dạng các quyết định của người tiêu dùng. Lạm phát cao có xu hướng làm thay đổi các cân bằng thực của nền kinh tế, làm chệch hướng các nguồn lực khi thực hiện các giao dịch; giảm tín hiệu thông tin về giá tương đối vì vậy dẫn đến tình trạng phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Bên cạnh đó, lạm phát cao làm tăng chi phí của doanh nghiệp do lãi suất tăng và do doanh nghiệp phải thường xuyên điều chỉnh thực đơn … Đây cũng là một nguyên nhân khác làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và giảm sản lượng của nền kinh tế. Thứ hai, lạm phát cao gây ra nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Khi đầu tư giảm sút do lạm phát như đã phân tích ở trên, doanh nghiệp sẽ sa thải công nhân, làm cho thất nghiệp tăng lên, thu nhập của người lao động bị giảm sút. Đồng thời, lạm phát cao làm giảm lợi tức và tăng thêm chi phí của người gửi tiết kiệm. Lạm phát cao và không được dự đoán gây mất công bằng xã hội, người đi vay được lợi và người cho vay bị thiệt. Đối với nước đang phát triển như Việt Nam, tác động của lạm phát còn làm sâu sắc hơn chênh lệch giàu nghèo, trong đó người nghèo bị thiệt hại nhiều nhất.
Công trình nghiên cứu “Lạm phát đối với các nhóm dân cư” do Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) thực hiện, đã cho kết quả định lượng về mức độ ảnh hưởng của lạm phát đối với các nhóm dân cư ở thành thị và nông thôn: lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực ở mức độ sâu hơn đối với khu vực nông thôn so với khu vực thành thị trong tất cả các tháng từ tháng 1-12/2006. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra, kết quả tác động của lạm phát đối với nhóm 10% dân cư nghèo nhất cao hơn so với nhóm 10% dân cư giàu nhất (24. Luan van 10 Thứ ba, trường hợp xảy ra lạm phát phi mã hoặc siêu lạm phát có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội. Lạm phát cao làm mất niềm tin của người dân, dân chúng ồ ạt rút tiền gửi ở các ngân hàng, làm nhiều ngân hàng có khả năng bị phá sản, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể bị lung lay.