Chương 1: Tổng quan về bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán; Chương 2: Thực trạng bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam; Chương 3: Kiểm định tác động của cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam; Chương 4: Các giải pháp ngăn ngừa và hạn chế bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Sơ lƣợc về kinh doanh chứng khoán 1. Khái niệm về đầu tƣ chứng khoán Đầu tư theo nghĩa chung nhất là quá trình sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm thu lại lợi ích nào đó trong tương lai.
Đầu tư chứng khoán là một hình thức đầu tư khá phổ biến hiện nay. Mục đích của đầu tư chứng khoán trước hết là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đã bỏ ra đầu tư. Phần lợi nhuận này được hình thành từ lợi tức chứng khoán và phần chênh lệch giá chứng khoán trên thị trường. Đầu tư chứng khoán có thể được phân tán rủi ro trong tương lai nhờ đa dạng hóa các hình thức đầu tư, để thực hiện quyền kiểm soát hoặc tham gia quản trị doanh nghiệp với tư cách người nắm cổ phần, vốn góp chi phối.
Các mục đích có thể khác nhau tùy theo ý định của từng nhà đầu tư, song cũng có thể là tổng hợp các mục tiêu trên trong những tình huống cụ thể. Như vậy đầu tư chứng khoán có thể là trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư vào chứng khoán đang lưu hành trên thị trường nhằm đạt được những lợi ích nhất định. Chủ thể tham gia trên thị trƣờng chứng khoán Chủ thể phát hành: Là những người huy động vốn bằng cách phát hành và bán các chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Thuộc loại này có: Chính Phủ, các cơ quan của Chính Phủ, các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp (DN) và các công ty cổ phần (CTCP).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chủ thể đầu tư: Chủ thể đầu tư có thể chia thành hai loại: Nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức. Nhà đầu tư (NĐT) tổ chức (bao gồm: quỹ hưu bổng, quỹ hỗ tương, các công ty bảo hiểm, các ngân hàng thương mại (NHTM), các quỹ tài chính công, các quỹ bảo hiểm xã hội, các quỹ cứu trợ, …) thường dành một lượng tiền lớn dành cho đầu tư chứng khoán, họ thường giao dịch với các lô lệnh lớn và có ảnh hưởng mạnh đến giá chứng khoán và thị trường. So với NĐT tổ chức, NĐT cá nhân dường như yếu kém hơn về kinh nghiệm, kiến thức, cũng như khả năng tiếp cận thông tin, v. Chủ thể trung gian chứng khoán: Bao gồm nhà trung gian cá nhân và nhà trung gian tổ chức (các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư chứng khoán, các trung gian tài chính).
Các chủ thể khác liên quan đến hoạt động của TTCK: Cơ quan quản lý Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm, v. Kinh doanh chứng khoán của các nhà đầu tƣ 1. Khái niệm về kinh doanh chứng khoán Các nhà đầu tư thường có nhiều hình thức đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận. Một trong các hình thức đó là kinh doanh chứng khoán.
Kinh doanh chứng khoán là việc bỏ vốn ra để mua bán chứng khoán nhằm kiếm lời. Việc kiếm lợi nhuận có thể là từ thu nhập lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu hay là từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khoán đem lại. Mục đích và nguyên tắc kinh doanh Mục đích đầu tư: Nhà đầu tư cá nhân có mục đích đầu tư rất khác nhau, trước hết và quan trọng nhất là tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức kép của chứng khoán. Họ có thể nhằm vào mục tiêu tích lũy vốn để tạo ra thu nhập trong tương lai, hoặc đáp ứng các nhu cầu về giáo dục, trang trải các chi phí sinh hoạt hàng ngày.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Dù nhằm mục đích nào thì vấn đề an toàn vốn cũng là một mục tiêu quan trọng. Và mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi ích. Để làm được điều này, nhà đầu tư có thể trực tiếp hoặc gián tiếp xâc định thông qua việc thường xuyên xem xét tình hình tài chính của mình các quan điểm về khả năng chấp nhận rủi ro, các quy chế về thuế… Tình hình tài chính tổng thể của họ bao gồm cả các nhu cầu hiện tại và tương lai, nó chính là cơ sở để xác định được một cách hệ thống các mục đích đầu tư. Nguyên tắc đầu tư: Trên thị trường chứng khoán, bên cạnh lợi nhuận hấp dẫn mà NĐT có thể thu được thì cũng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro.
Chính vì vậy, để thu được lợi nhuận trong dài hạn, NĐT phải nguyên túc thực hiện các nguyên tắc sau: - Thứ nhất: Đa dạng hóa đầu tư. Đây là nguyên tắc cơ bản trong thị trường tài chính. Tuân thủ nguyên tắc này, nhằm mục đích để giảm rủi ro nhưng NĐT vẫn có thu nhập bình thường. - Thứ hai: Chọn công ty tốt.
Việc lựa chọn công ty tốt để đầu tư không chỉ phù hợp với NĐT nhỏ lẻ thiếu kinh nghiệm, kiến thức mà cũng là những cổ phiếu hấp dẫn được NĐT tổ chức. Tuy nhiên, để biết được hàng hóa nào tốt, hàng hóa nào kém đòi hỏi NĐT phải tìm kiếm, thu thập thông tin đáng tin cậy để đánh giá đúng bản chất của các công ty này. - Thứ ba: Đầu tư phù hợp với sự biến động của nền kinh tế. TTCK là hàn thử biểu cho nền kinh tế, sự biến động của nền kinh tế tác động mạnh mẽ lên sự biến động trên TTCK.
Việc đầu tư tiền vào công ty tốt cũng có thể bị thua lỗ khi nền kinh tế bước vào suy thoái. vì vậy, đòi hỏi NĐT luôn phảI theo dõi sát sao sự biến động của nền kinh tế để đưa ra những quyết định kịp thời cho từng thời điểm. Phân loại rủi ro và các biện pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh chứng khoán LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại rủi ro trong kinh doanh chứng khoán Giống như các hình thức đầu tư khác, khả năng sinh lời trong đầu tư chứng khoán luôn gắn liền với những rủi ro mà nhà đầu tư chứng khoán có thể gặp phải, thông thường lợi nhuận càng cao thì khả năng gặp phải rủi ro càng lớn, có khi đẩy NĐT đến khuynh gia bại sản.
Vì thế việc xem xét, đánh giá mức độ rủi ro có thể gặp là một việc làm bắt buộc trong đầu tư chứng khoán. Các loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh chứng khoán bao gồm: Rủi ro đối với nhà đầu tư khi không bán được cổ phần. Đây là rủi ro về tính thanh khoản của chứng khoán thường diễn ra trong trường hợp thiếu những nhà tạo lập thị trường, khi nền kinh tế biến động theo chiều hướng bất lợi, khi có các tin đồn hay khi tình trạng kinh doanh của công ty trở nên sa sút. Rủi ro công ty Rủi ro công ty thường phản ánh thông qua lợi nhuận.
thông thường lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng nhiều, và rủi ro thường được thể hiện dưới dạng rủi ro về lãi suất, giá lên xuống thất thường, năng lực quản trị yếu kém, thiên tai, tệ quan liêu tham nhũng. Có thể chia thành hai loại rủi ro chủ yếu: - Rủi ro hệ thống, hay còn gọi là rủi ro không dàn trải, có tầm ảnh hưởng lên toàn bộ các hình thức đầu tư như thay đổi trong kinh tế, môi trường và xã hội… - Rủi ro không hệ thống, hay còn gọi là rủi ro có thể dàn trải, chẳng hạn như bãi công, quảng cáo, thay đổi trong khuynh hướng tiêu thụ, kiện tụng… Phụ thuộc vào tình hình cụ thể của công ty. Rủi ro về thời điểm Cùng một loại cổ phiếu có người đầu tư lời, có người đầu tư lỗ vì đầu tư sai thời điểm. Đầu tư sai thời điểm có thể vì người đầu tư không theo dõi sát biến chuyển của thị trường chứng khoán thế giới và trong nước.
Lĩnh vực này đòi hỏi những nhà môi giới phải có trình độ nghề nghiệp cao, đủ khả năng theo dõi thị trường chứng khoán nước ngoài để có thể cập nhật hóa từng ngày, từng giờ cho khách hàng khi cần. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Rủi ro về pháp luật: là rủi ro mà những tiềm năng thu lợi nhuận từ việc đầu tư chứng khoán có thể phải chịu sự tác động ngược lại của các quy định pháp luật mới hoặc sữa đổi. Rủi ro tái đầu tư: là rủi ro khi những người nắm giữ chứng khoán không thể tái đầu tư số lãi được trả vào một đầu tư có lãi suất tương đương với lợi tức cho đến lúc đáo hạn. Các biện pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh chứng khoán Điều quan trọng nhất, có y nghĩa quyết định dối với nhà đầu tư là phải xác lập cho được quy trình quản trị rủi ro.
Một trong quy trình quản trị rủi ro thông thường được chia thành các nôi dung: a) Nhận diện cho được rủi ro Nhận diện cho được rủi ro là bước quan trọng và đầu tiên. Mục đích của nó là tìm hiểu một cách thấu đáo những gì thuộc về bản chất của những rủi ro đó. Phương pháp trực tiếp và đơn giản là liệt kê từng yếu tố và các biến cố có thể gây ra rủi ro. Nhận dạng đầy đủ những tác nhân kinh tế nào có thể dẫn đến rủi ro, ví dụ như yếu tố lãi suất, mức lạm phát, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế… Tìm hiểu xem chiều hướng nào có thể gây ra rủi ro, ví dụ ngân hàng trung ương đang hướng chính sách tiền tệ của mình theo mục tiêu là chống lạm phát, bằng cách tăng lãi suất cơ bản, tác động đến lãi suất tín dụng thị trường của các tổ chức tín dụng, tác động trực tiếp đến giá chứng khoán đến mức độ nào đó.
Phân tích và nhận dạng các biểu hiện của rủi ro đang đề cập có phụ thuộc vào những biến cố nào khác hay không, ví dụ công ty phát hành xuất hiện rủi ro khi không được nhà đầu tư tín nhiệm. b) Xác định định tính và định lượng các rủi ro Phương pháp này sẽ đo được mức phản ứng của công ty phát hành đối với nguyên nhân và nguồn gốc các loại rủi ro đã được xác định.