Lời mở đầu Thị trường chứng khoán Việt Nam là kênh tạo vốn và huy động vốn rất quan trọng và cung cấp nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và kết quả kinh doanh của những công ty niêm yết trên HOSE nói riêng. Do đó, chính sách cổ tức nói chung và chính sách cổ tức bằng tiền mặt nói riêng của những công ty cũng chịu ảnh hưởng bởi những biến động trong kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, cổ tức là chỉ tiêu nhạy cảm và có thể nói là quan trọng nhất đối với nhà đầu tư.
Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ảnh hưởng lớn đến giá cổ phiếu trên thị trường. Nhưng chính sách cổ tức tiền mặt lại chịu ảnh hưởng các yếu tố bên trong: cơ hội đầu tư, lợi nhuận, và thanh khoản công ty và yếu tố bên ngoài, nó ảnh hưởng đến lợi ích của nhà đầu tư và của chính công ty. Vì vậy, tác giả hệ thống hoá các lý thuyết liên quan đến chính sách cổ tức bằng tiền mặt và tóm tắt các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về chính sách cổ tức bằng tiền mặt. Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt nhiều nhất của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán, tỷ lệ này khó đảm bảo cho việc mở rộng đầu tư sản xuất, cạnh tranh với các công ty tầm cỡ trong khu vực và thế giới.
Chính sách cổ tức tiền mặt là một trong những chủ đề hấp dẫn và quan trọng trong nghiên cứu tài chính vì nó vừa ảnh hưởng trực tiếp đến cổ đông, vừa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- ảnh hưởng đến sự phát triển của công ty. Stephen Thomas và cộng sự (2004), tác giả nghiên cứu về quyết định chi trả cổ tức của các công ty ở Anh có kết quả kinh doanh thua lỗ sau một thời gian duy trì lợi nhuận. Kết quả cho thấy những công ty làm ăn thua lỗ thường giảm chi trả cổ tức hơn là những công ty vẫn còn lợi nhuận. Độ lớn khoản lỗ là nhân tố quan trọng quyết định đến chính sách cổ tức tiền mặt.
Fama và French (2001), cho rằng lợi nhuận, cơ hội đầu tư và qui mô công ty là những yếu tố quyết định đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Để biết chính sách cổ tức bằng tiền mặt của các công ty Việt Nam, cụ thể là các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thời gian qua bị tác động bởi những nhân tố nào? Tác động của các yếu tố này tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt cụ thể ra sao? Tác giả đã chọn đề tài: “Các yếu tố tài chính tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Xác định các yếu tố tài chính tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt của các công ty niêm yết trên HOSE 1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các công ty niêm yết trên HOSE có chi trả cổ tức tiền mặt, giai đoạn 2007 – 2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC TIỀN MẶT Trong chương này sẽ điểm qua một số vấn đề lý thuyết liên quan đến chính sách cổ tức tiền mặt, các yếu tố tài chính tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt, các nghiên cứu trước đây liên quan đến vấn đề này và sự khác biệt giữa nghiên cứu ở các nước trên thế giới và nghiên cứu tại Việt Nam. Quan niệm về chính sách cổ tức tiền mặt Cổ tức tiền mặt là loại cổ tức phổ biến nhất. Bởi vì khi các nhà đầu tư mua cổ phiếu của một công ty, họ đều nhắm đến đạt được khoảng bao nhiêu lợi nhuận trong tương lai, trong đó cổ tức cũng là một phần họ kỳ vọng.
Đồng thời, việc chi trả cổ tức thường diễn ra vào cuối năm, giai đoạn này các cổ đông rất cần tiền mặt để chi tiêu dùng cá nhân, nếu công ty trả cổ tức bằng tiền mặt thì sẽ giúp tài khoản của họ có tính thanh khoản cao. Cổ tức tiền mặt là số đơn vị tiền tệ mà công ty thanh toán cho cổ đông tính trên phần trăm mệnh giá một cổ phần. Mệnh giá là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu. Ví dụ: ABT thông báo chi trả cổ tức đợt 1 năm 2011 bằng tiền mặt, tỷ lệ 60% mệnh giá.
Nghĩa là mỗi cổ phiếu nhận được cổ tức 10. Cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ nhận được tiền cổ tức 100 x 6. Trả cổ tức tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài sản và giảm lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán, tức giảm nguồn vốn chủ sở hữu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Những nghiên cứu trƣớc đây về các yếu tố tài chính tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt Để có một quyết định chính sách cổ tức tiền mặt thì phải ảnh hưởng đến bối cảnh và môi trường kinh doanh.
Bao gồm cả yếu tố bên trong và bên ngoài, yếu tố định lượng và định tính. Những yếu tố tài chính này tác động ngược chiều hay cùng chiều, tác động mạnh hay yếu đến chính sách cổ tức tiền mặt trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong bài luận này tác giả kế thừa nghiên cứu của Ahmad H.Juma’h và Carlos J. Hai ông này đã sử dụng các biến tài chính: lợi nhuận, tính thanh khoản, mở rộng đầu tư, cơ hội đầu tư, qui mô công ty để nghiên cứu sự tác động của những nhân tố này đến chính sách cổ tức tiền mặt.
Hai ông cũng đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến để nghiên cứu Dit = i + Ʃ βjXijt + εit. Trong đó i= 1, 2, … N; t = 1, 2, … T; T là số lượng của các biến. Biến phụ thuộc Dit được chi trả bởi công ty “i” trong năm “t”. i là hệ số cắt và Xijt là biến độc lập.
Trong nghiên cứu của hai tác giả này thì các yếu tố tài chính tác động đến cổ tức tiền mặt là: lợi nhuận, tính thanh khoản, mở rộng đầu tư, cơ hội đầu tư, qui mô công ty thì chỉ có cơ hội đầu tư không tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt. Cũng có nhiều kết quả nghiên cứu về chính sách cổ tức tiền mặt ở các quốc gia và đã có nhiều kết luận khác nhau, do tại mỗi quốc gia có sự khác nhau trong giai đoạn tăng trưởng, khác nhau trong chính sách thuế, khác nhau trong kiểm soát doanh nghiệp… 2.1 Yếu tố lợi nhuận (Profitability) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- Một số kết quả nghiên cứu cho rằng doanh nghiệp có mức lợi nhuận (thu nhập) ổn định thường sẵn lòng chi trả cổ tức cao hơn một doanh nghiệp có thu nhập không ổn định. Bởi lẽ, một khi doanh nghiệp đã có được dòng tiền tương đối ổn định qua nhiều năm thì thường sẽ tự tin hơn vào tương lai và sự tự tin này được phản ánh thông qua việc chi trả cổ tức cao hơn. Một mức cổ tức cao dễ tạo ra tâm lý “đầu tư có lợi”, doanh nghiệp trả cổ tức cao cũng thường được coi là ăn nên làm ra và hội đồng quản trị được đánh giá là có năng lực.Juma’h và Carlos J.Olivares Pacheco (2008) cho rằng lợi nhuận là nhân tố quan trọng quyết định chính sách cổ tức tiền mặt.
Họ đã sử dụng hai biến số để nghiên cứu: Tỷ số giữa thu nhập từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản (OITA) và tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA). Họ đã đưa ra kết quả: trong suốt thời kỳ từ năm 1994 – 2003, thu nhập từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản (OI/TA) trung bình 22.23% cho những công ty chi trả cổ tức tiền mặt và chỉ số lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) là 20% đều có mối quan hệ cùng chiều với công ty chi trả cổ tức tiền mặt. Fama và French (2001) Cũng đồng ý với hai tác giả Ahmad H.Juma’h và Carlos J. Hai ông đã khảo sát các yếu tố tài chính của những công ty chi trả cổ tức và kết luận rằng hầu hết các yếu tố tài chính tác động đến chính sách cổ tức tiền mặt là qui mô công ty, lợi nhuận và cơ hội đầu tư.
Họ đã nghiên cứu chi trả cổ tức ở Hoa Kỳ và thấy tỷ lệ chi trả cổ tức giảm mạnh từ 66% năm 1978 xuống 20. Đối với lợi nhuận, Fama và French (2001) sử dụng Et/At (tỷ lệ tổng thu nhập trước lãi so với tổng tài sản), Yt/Bet (tổng thu nhập ròng của cổ phiếu thường so với vốn chủ sở hữu). Tác giả phát hiện ra lợi nhuận của công ty (đo lường bởi Et/At và Yt/Bet) thay đổi theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- từng nhóm công ty. Những công ty tăng trưởng như Microsoft, Cisco và Sun Microsytems thì không có chi trả cổ tức.
Họ giải thích rằng xác suất một công ty chi trả cổ tức có quan hệ cùng chiều với lợi nhuận, qui mô công ty và có quan hệ ngược chiều cơ hội đầu tư. Nghiên cứu của họ kết luận rằng những công ty lớn có lợi nhuận nhiều thì có nhiều khả năng trả cổ tức, những công ty mà chưa bao giờ chi trả cổ tức thì có qui mô nhỏ, lợi nhuận thấp và có nhiều cơ hội đầu tư. Adaoglu (2000) đã tiến hành nghiên cứu về sự bất ổn định trong chính sách cổ tức của các công ty cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Istanbul (ISE), một nền kinh tế điển hình cho thị trường mới nổi bằng cách sử dụng mô hình Lintner trên 916 mẫu quan sát thông báo cổ tức của các công ty thuộc khu vực phi tài chính được niêm yết trên ISE. Kết quả phân tích cho thấy rằng yếu tố chính ảnh hưởng đến lượng cổ tức được chia chính là lợi nhuận của công ty.
Kumar (2003) cũng đã nghiên cứu các yếu tố tài chính tác động đến chính sách cổ tức của các công ty ở Ấn Độ. Kết quả cho rằng lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với chi trả cổ tức.