LỜI MỞ ĐẦU Xác định vấn đề nghiên cứu Gần 30 năm từ sau khi Đổi Mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển dịch thành công từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng, với sự tham gia nhiều hơn của nhà đầu tƣ tƣ nhân và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Nền kinh tế Việt Nam đƣợc xem là một con rồng đang bay lên ở khu vực Đông Nam Á, với tốc độ tăng trƣởng GDP hàng năm rất ấn tƣợng, chỉ sau Trung Quốc ở khu vực châu Á. Thành tựu về kinh tế này có sự đóng góp quan trọng của hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM) Việt Nam, bởi hệ thống ngân hàng là kênh trung chuyển nguồn vốn nhàn rỗi sang nguồn vốn đầu tƣ. Với chức năng trung gian tín dụng, nghiệp vụ huy động vốn, cho vay và đầu tƣ của NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, và thúc đẩy sự lƣu thông hàng hóa thông qua các dịch vụ thanh toán của NHTM.
Sự khỏe mạnh của hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM) thƣờng có tƣơng quan chặt chẽ với sự khỏe mạnh của nền kinh tế. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách đối với hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM) Việt Nam trong hai thập kỷ qua. Những cải cách này nhằm gia tăng mức độ cạnh tranh trên thị trƣờng ngân hàng để cải thiện hiệu quả hoạt động của các NHTM. Cải cách ngân hàng nhìn chung tập trung vào các vấn đề sau.
Thứ nhất là nới lỏng những ràng buộc về hoạt động đối với chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài. Thứ hai là tạo hành lang pháp lý1 để thu hút các tổ chức tín dụng nƣớc ngoài đến từ các nƣớc phát triển đầu tƣ vào các NHTM trong nƣớc ở Việt Nam nhằm tạo cơ hội cho các ngân hàng này học hỏi công nghệ ngân hàng và cách quản lý từ các tổ chức tín dụng nƣớc ngoài này. Ba là gia tăng năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam bằng việc yêu cầu gia tăng mức vốn pháp định và tỷ lệ an toàn vốn CAR2. 1 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực từ năm 2011 thay thế Luật các tổ chức tín dụng năm 1997.
2 Mức vốn pháp định đƣợc yêu cầu là 1000 tỷ đồng vào năm 2008, nhƣng 3000 tỷ đồng vào năm 2010, tỷ lệ an toán vốn CAR đƣợc tăng từ 8% năm 2005 lên 9% vào năm 2010. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Bốn là cổ phần hóa các NHTM nhà nƣớc nhƣng vẫn giữ lại vốn nhà nƣớc là 51% tại các ngân hàng này. Ngoài ra xu hƣớng hội nhập quốc tế và tự do hóa tài chính trong thập kỷ qua càng làm cho cạnh tranh của các NHTM Việt Nam đang ngày càng trở nên gay gắt và khốc nghiệt. Sau khi gia nhập WTO năm 2007, NHTM Việt Nam đã thể hiện nhiều sự yếu kém của mình nhƣ: năng lực tài chính thấp, sức cạnh tranh chƣa cao, năng lực quản trị và công nghệ yếu, cải cách diễn ra chậm và thiếu tính minh bạch 3.
Điều này đƣợc thể hiện rõ qua mức độ ảnh hƣởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009. Ví dụ nhƣ nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với lạm phát cao trong những năm này, nên chính phủ Việt Nam thực hiện thắt chặt tiền tệ, dẫn đến lãi suất huy động và lãi suất cho vay tăng cao. Lãi suất tăng cao khiến cho nhiều doanh nghiệp khó khăn và mất khả năng chi trả, làm các khoản nợ xấu tăng cao, và sau đó làm tăng rủi ro cho các NHTM. Sự gia tăng rủi ro này làm cho các NHTM dè dặt trong việc cho vay vốn, tiền không đƣợc mang ra lƣu thông trở thành khoản tiền vô ích, làm tăng chi phí và ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam.
Trong điều kiện thị trƣờng ngân hàng cạnh tranh ngày càng khốc liệt, việc NHTM không ngừng gia tăng khả năng sinh lời, hay nói cách khác gia tăng lợi nhuận, thể hiện sự gia tăng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, gia tăng khả năng cạnh tranh của NHTM, tạo niềm tin của khách hàng và nhà đầu tƣ vào NHTM, và điều này tạo đà nâng cao lợi nhuận của NHTM hơn nữa Xuất phát từ thực trạng trên, luận văn chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam” nhằm đóng góp thêm những hiểu biết sâu sắc về các nhân tác động đếm khả năng sinh lời của các NHTM trong nƣớc tại Việt Nam trong giai đoạn 2002-2013. 3 Theo báo cáo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam năm 2012, trang 23. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Mục tiêu nghiên cứu Luận văn thực hiện với các mục tiêu cụ thể sau: - Tìm hiểu thực trạng khả năng sinh lời của các NHTM trong nƣớc ở Việt Nam. - Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến sự biến động của khả năng sinh lời của hệ thống NHTM trong nƣớc Việt Nam.
- Phân tích các nhân tố để làm cơ sở đề xuất các chính sách cho các lãnh đạo ngân hàng nhằm thực hiện khả năng sinh lời của các NHTM Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu bao gồm: khả năng sinh lời cụ thể là ROA và ROE của các NHTM Việt Nam. Trong đó, các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời đƣợc chia thành 3 nhóm là các nhân tố vĩ mô, nhân tố ngành và nhân tố vi mô của từng ngân hàng. Phạm vị nghiên cứu Luận văn nghiên cứu về khả năng sinh lời của các NHTM trong nƣớc tại Việt nam trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2013. Cụ thể, theo báo cáo của Ngân Hàng Nhà Nƣớc Việt Nam (năm 2012, trang 23), hệ thống NHTM trong nƣớc của Việt Nam gồm 5 NHTM nhà nƣớc và 34 NHTM cổ phần.
Tuy nhiên, do hạn chế về dữ liệu thu thập nên luận văn chỉ tập trung vào NHTM trong nƣớc ở Việt Nam trong giai đoạn 2002-2013 do không thể thu thập đƣợc số liệu của các ngân hàng liên doanh và ngân hàng nƣớc ngoài. Mẫu dữ liệu sử dụng gồm 28 ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc trong nƣớc bao gồm 5 NHTMNN và 23 NHTMCP. Chi tiết về danh sách các ngân hàng và dữ liệu thu thập trình bày cụ thể ở chƣơng 3 của luận văn. Phƣơng pháp nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Phƣơng pháp nghiên cứu mô tả: Dựa trên các số liệu thống kê thông qua thu thập dữ liệu có sẵn, tiến hành lập bảng biểu, biểu đồ so sánh và đánh giá nội dung cần tập trung nghiên cứu.
- Phƣơng pháp định lƣợng: Dựa trên mô hình nghiên cứu đƣợc xây dựng, nghiên cứu tiến hành kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy và xác định các nhân tố ảnh hƣởng và mức độ ảnh hƣớng đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Cụ thể luận văn đo lƣờng khả năng sinh lời của của NHTM trong nƣớc tại Việt Nam bằng lợi nhuận trên một đơn vị tài sản (ROA: return on assets) và lợi nhuận trên một đồng vốn chủ sở hữu (ROE: return on equity). Để tìm hiểu tác động của nhóm các nhân tố thuộc về ngân hàng (quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động của ngân hàng, tỷ trọng cho vay so với tổng tài sản, vốn ngân hàng), nhóm các nhân tố thuộc về ngành (loại ngân hàng), và nhóm nhân tố vĩ mô (lạm phát, mức tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội, doanh số giao dịch trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam) đến khả năng sinh lời của các NHTM trong nƣớc ở Việt Nam trong giai đoạn 2002-2013, luận văn sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để ƣớc lƣợng sự biến động của biến khả năng sinh lời của ngân hàng (nghĩa là ROA và ROE là biến phụ thuộc) bởi nhóm các biến độc lập, gồm các biến thuộc về ngân hàng (quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, quy mô cho vay và vốn), ngành (loại ngân hàng) và vĩ mô (lạm phát, tăng trƣởng GDP, doanh số giao dịch trên thị trƣờng chứng khoán). Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn xác định các nhân tố làm tăng hay làm giảm khả năng sinh lời của các NHTM này.
Kết quả thu đƣợc về các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời tại các NHTM trong nƣớc tại Việt Nam dựa trên bộ dữ liệu trong khoảng thời gian dài và cập nhật từ năm 2002 đến năm 2013 sẽ là kênh tham khảo cho các nhà làm chính sách cũng nhƣ các lãnh đạo ngân hàng thƣơng mại đề ra chính sách thích hợp để cải thiện khả năng sinh lời của các NHTM trong nƣớc tại Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Kết cấu phần nội dung của luận văn Luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về khả năng sinh lời của của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng về khả năng sinh lời tại các NHTM Việt Nam Chƣơng 3: Phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời tại các NHTM Việt Nam Chƣơng 4: Kết luận và đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM 1. Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại Khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại Theo luật các tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12, “ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” NHTM giống doanh nghiệp ở chỗ là cũng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, nhƣng khác nhau ở chỗ là NHTM chịu sự giám sát của ngân hàng trung ƣơng, phải tuân thủ các quy định về tỷ an toàn do ngân hàng nhà nƣớc quy định khi kinh doanh, và là kênh để Nhà nƣớc thực hiện hỗ trợ nền kinh tế phát triển Chức năng của Ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, NHTM thực hiện nhiều chức năng cơ bản sau: Chức năng trung gian tín dụng Đây là chức năng đặc trƣng của NHTM, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Thực hiện chức năng này, NHTM là cầu nối giữa những ngƣời có vốn dƣ thừa và những ngƣời có nhu cầu về vốn.