MỞ ĐẦU Công nghệ thông tin được xem là một ngành mũi nhọn của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, như nước ta hiện nay. Sự bùng nổ thông tin và sự phát triển mạnh của công nghệ kỹ thuật số, yêu cầu phải tin học hoá tất cả các ngành, các lĩnh vực. Cùng với sự phát triển nhanh chóng về phần cứng máy tính, các phần mềm ngày càng hoàn thiện hơn và hỗ trợ hiệu quả cho con người. Các phần mềm hiện nay đã mô phỏng được rất nhiều nghiệp vụ khó, hỗ trợ cho người dùng thuận tiện sử dụng, thời gian xử lý nhanh, và một số nghiệp vụ được tự động hoá cao.
Do vậy, đòi hỏi đối với triển khai, phát triển phần mềm không chỉ là sự chính xác, xử lý được nhiều nghiệp vụ thực tế mà còn phải đáp ứng các yêu cầu khác như về tốc độ, giao diện thân thiện, mô hình hoá được thực tế vào máy tính để người sử dụng tiện lợi, tương thích cao, bảo mật cao… Các phần mềm ra đời giúp tiết kiệm một lượng lớn thời gian, công sức của con người, tăng độ chính xác và hiệu quả trong công việc. Trong các trường đại học thì việc quản lý đào tạo đòi hỏi mất nhiều công sức và thời gian. Đại học Quốc gia Hà nội đã có phần mềm quản lý đào tạo dùng chung cho tất cả các đơn vị thành viên. Quản lý điểm của sinh viên là một trong số các nghiệp vụ trong phần mềm quản lý đào tạo, việc quản lý này phải cần khá nhiều người, chia thành nhiều khâu, khâu nhập điểm đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, mà độ chính xác và hiệu quả chưa đạt yêu cầu, vì còn đang nhập điểm bằng thủ công nên đòi hỏi mất rất nhiều thời gian cho khâu kiểm tra điểm giữa bảng điểm giảng viên nộp và bảng điểm in ra từ phần mềm quản lý đào tạo.
Nghiệp vụ nhập điểm hoàn toàn có thể tin học hoá một cách dễ dàng thông qua việc nhập điểm bằng mã vạch hai chiều mà luận văn này đề cập tới. Khi đó, với sự giúp đỡ của tin học, việc quản lý người học sẽ trở nên đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả cao. Đó chính là lý do mà tôi chọn đề tài này để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ. Trang 10 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÃ VẠCH VÀ ỨNG DỤNG 1.
Tổng quan về mã vạch: 1. Giới thiệu mã vạch: Mã vạch là một phương pháp lưu trữ và truyền tải thông tin bằng một loại ký hiệu mà các máy quang học có thể đọc được. Mã vạch mang một số thông tin có thể dùng làm khoá để truy xuất các thông tin chi tiết của các đối tượng lưu trữ. Một số loại mã vạch có thể mang khá nhiều thông tin.
Thông thường, mã vạch được trình bày theo độ rộng (của cột hay vạch), sự thay đổi trong độ rộng của vạch và khoảng trắng biểu diễn thông tin số hay chữ số dưới dạng mà máy có thể đọc được. Lịch sử phát triển Năm 1948, mã vạch được Norman Joseph Woodland và Bernard Silver sinh viên Đại học tổng hợp Drexel, xuất phát từ mong ước của vị chủ tịch của một công ty buôn bán đồ ăn. Ông này muốn có một hệ thống tự động kiểm tra toàn bộ quy trình. Đầu tiên họ sử dụng mã Morse để in những vạch rộng hay hẹp thẳng đứng.
Sau đó, họ chuyển sang sử dụng dạng "điểm đen" của mã vạch với các vòng tròn đồng tâm. Năm 1952, công trình của ông về "Dụng cụ và phương pháp phân loại" được chứng nhận bản quyền. Mã vạch ra đời và được sử dụng đến ngày nay. Năm 1952, thiết bị đọc mã vạch đầu tiên được thiết kế và xây dựng bởi Woodland và Silver.
Nó bao gồm một đèn dây tóc 500 W và một ống chân không nhân quang tử để in theo phương pháp quang học lên trên phim. Thiết bị này đã không được áp dụng trong thực tế. Năm 1960 Silver tiếp tục phát minh ra tia laser đã làm cho các thiết bị đọc mã vạch trở nên rẻ tiền hơn, và sự phát triển của mạch bán dẫn (IC) làm cho việc giải mã các tín hiệu thu được từ mã vạch có ý nghĩa thực tiễn. Năm 1972, RCA thử nghiệm việc sử dụng đầu đọc mã vạch điểm đen nhưng khi in ra nó rất dễ nhòe.
Năm 1973, Woodland đã phát triển mã vạch tuyến tính được chấp nhận như là Mã sản phẩm chung (tiếng Anh: Universal Product Code, hay UPC). Năm 1974, đầu đọc mã vạch đã được sử dụng tại siêu thị Marsh ở Troy, Ohio. Ngày nay, mã vạch đã phát triển nhanh chóng, rộng khắp, nhiều loại mã vạch ra đời và trở thành một phương thức đơn giản, tiện lợi để lưu trữ thông tin cho các hệ thống tự động. Các dạng mã vạch phổ biến hiện nay: 1.1 Mã vạch một chiều (mã vạch tuyến tính): Là chuẩn mã vạch trên các sản phẩm mọi người thường thấy, được tổ chức GS1 (One global Standard) chứng nhận và sử dụng trong ngành công nghiệp bán lẻ trên toàn thế giới.1: Mã vạch một chiều (tuyến tính) Các loại mã vạch một chiều phổ biến: Loại Thuộc tính Độ rộng Sử dụng Catalog, các giá hàng trong cửa hàng, Plessey Liên tục 2 hàng tồn kho UPC Liên tục Nhiều Bán lẻ ở Mỹ EAN-UCC Liên tục Nhiều Bán lẻ khắp thế giới Codabar Rời rạc 2 Thư viện, ngân hàng máu, vé máy bay Interleaved 2 of 5 Liên tục 2 Bán buôn, thư viện Code 39 Rời rạc 2 Đa dạng Code 93 Liên tục 2 Đa dạng Code 128 Liên tục Nhiều Đa dạng Code 11 Rời rạc 2 Điện thoại POSTNET Liên tục Cao/Thấp Bưu điện PostBar Rời rạc Nhiều Bưu điện CPC Binary Rời rạc 2 Bưu điện Telepen Liên tục 2 Thư viện v.2 Mã vạch hai chiều (mã vạch 2D): Là một kỹ thuật mã hóa thông tin thành dạng dữ liệu mà máy có thể đọc được.
Mã vạch 2D xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1988, do tập đoàn Intermec tạo ra, và được gọi là Mã 49. Đó là một loại mã vạch có hình ảnh đồ họa có chứa cả 2 loại là mã vạch một chiều và mã vạch theo chiều dọc. Chính vì thế, nên mã vạch 2D có thể lưu trữ lên đến 7.089 ký tự so với mã vạch thông thường chỉ lưu trữ 20 ký tự. Khi tiến hành đọc mã code, thì mã vạch 2D có phản ứng rất nhanh và truy cập dữ liệu chỉ trong vài giây.2: Một loại mã vạch 2D Các loại mã vạch hai chiều phổ biến Loại Ghi chú 3-DI Phát triển bởi Lynn Ltd.
ArrayTag Từ ArrayTech Systems. Aztec Code Từ Welch Allyn (hiện nay là Handheld Products). Phạm vi công cộng. Code 1 Phạm vi công cộng.
CP Code Từ CP Tron, Inc. DataGlyphs Từ Xerox PARC. Datamatrix Từ RVSI Acuity CiMatrix. Hiện nay thuộc phạm vi công cộng.
Mã vạch này đã được thử nghiệm ở cửa hàng Kroger ở Cincinnati. Nó Điểm đen sử dụng các vạch đồng tâm. HueCode Từ Robot Design Associates. Sử dụng thang màu xám hoặc nhiều màu.CODE Từ INTACTA Technologies, Inc.
Sử dụng bởi Dịch vụ chuyển phát hàng hóa Mỹ (United Parcel MaxiCode Service). MiniCode Từ Omniplanar, Inc. PDF417 Có nguồn gốc từ Symbol Technologies. Phạm vi công cộng.
QR Code Từ Nippondenso ID Systems. Phạm vi công cộng. Trang 13 Loại Ghi chú SpotCode Mã vòng từ High Energy Magic Ltd. SuperCode Phạm vi công cộng.
UltraCode Có các phiên bản đen trắng và màu. Phạm vi công cộng.3 Mã vạch cụm: Là trung gian giữa mã vạch 2D thực thụ và mã vạch tuyến tính, chúng được tạo ra bằng cách đặt các mã vạch tuyến tính truyền thống trên các loại giấy hay các vật liệu có thể in mà cho phép có nhiều hàng. Các loại mã vạch cụm phổ biến: Loại Ghi chú Codeblock Mã vạch cụm 1D. Code 16K Dựa trên Code 128 1D.
Code 49 Mã vạch cụm 1D từ Intermec Corp. PDF417 Mã vạch 2D phổ biến nhất. Phạm vi công cộng.4 Mã vạch ba chiều (mã vạch 3D): Là một loại mã vạch được dập nổi hay khắc chìm trên bề mặt của vật thể mang mã. Các mã được đọc bằng cách sử dụng sự khác biệt về chiều sâu của vùng, chứ không xác định bới các vạch và khoảng cách giữa các vạch.
Mã vạch ba chiều có thể được sử dụng nơi mà bản in thường của mã dễ bị phá huỷ bởi điều kiện của môi trường hay những điều kiện dễ bị mài mòn.3 Ứng dụng của mã vạch. Mã vạch được sử dụng ở những nơi mà các đồ vật cần phải đánh số với các thông tin liên quan để các máy tính có thể xử lý. Thay vì việc phải đánh một chuỗi dữ liệu vào phần nhập liệu của máy tính thì người thao tác chỉ cần quét mã vạch cho thiết bị đọc mã vạch. Chúng cũng làm việc tốt trong điều kiện tự động hóa hoàn toàn, chẳng hạn như trong luân chuyển hành lý ở các sân bay.
Các dữ liệu chứa trong mã vạch thay đổi tùy theo ứng dụng. Trong trường hợp đơn giản nhất là một chuỗi số định danh được sử dụng như là chỉ mục trong cơ sở dữ liệu trong đó toàn bộ các thông tin khác được lưu trữ. Các mã EAN-13 và UPC tìm thấy phổ biến trên hàng bán lẻ làm việc theo phương thức này. Mã vạch còn chứa toàn bộ thông tin về sản phẩm, mà không cần cơ sở dữ liệu ngoài.
Điều này dẫn tới việc phát triển mã vạch tượng trưng mà có khả năng biểu diễn nhiều hơn là chỉ các số thập phân, có thể là bổ sung thêm các ký tự hoa và thường của bảng chữ cái cho đến toàn bộ bảng mã ký tự ASCII và nhiều hơn thế. Việc lưu trữ nhiều thông tin hơn đã dẫn đến việc phát triển của các ma trận mã (một dạng của mã vạch 2D), trong đó không chứa các vạch mà là một lưới các ô vuông. Ngày này, mã vạch hai chiều được ưa chuộng nhiều và ứng dụng rộng rãi, đặc biệt là đối với những người sở hữu smartphone. Đơn giản và hiệu quả, người sử dụng chỉ cần nhận dạng mã vạch hai chiều thông qua camera được trang bị với một đầu đọc mã vạch gắn trên điện thoại.
Qua đó, đầu đọc sẽ trả về kết quả là những đoạn URL đã được phân tích, và lập tức truy cập vào các trình duyệt có liên quan trên một website. Do vậy, mã vạch hai chiều rất có ích cho lĩnh vực tiếp thị qua di động. Một số hệ thống mã vạch hai chiều khác thì lại trực tiếp cung cấp thông tin cho khách hàng nhận được mà không cần phải truy cập website. Mã vạch hai chiều ngày càng được ưa chuộng vì người ta nhận ra những đặc tính độc đáo của nó không có mặt trong các mã vạch tuyến tính truyền thống và được nhằm vào ba ứng dụng chính: 1.