Chương 1 - Cơ sở lý thuyết liêu quan đên động cơ làm việc của người lao động. Chương 2 - Động cơ làm việc của giảng viên trường Đại học Sao Đỏ: Đánh giá về thực trạng động cơ làm việc của các giảng viên và ý kiến đánh giá của giảng viên về các tố ảnh hướng. Chương 3 - Một số đề xuất tăng cường động cơ làm việc cho giảng viên trường Đại học Sảo Đỏ. 7 CHƢƠNG I: CƠ SƠ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG CƠ LÀM VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG Chương này giới thiệu khái niệm về động cơ thúc đẩy và các học thuyết liên quan đến tạo động cơ thúc đẩy trong công việc bao gồm các học thuyết nổi tiếng như thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, thuyết hai nhân tố của Herzberg, thuyết kỳ vọng của Vroom, mô hình đặc điểm công việc của Hackman và Oldham.
Từ những lý thuyết, tác giả xác định các chỉ tiêu phán ảnh động cơ thúc đẩy của nhân viên và các nhân tố ảnh hưởng đến động cơ thúc đẩy, nhằm định hướng nghiên cứu cho cho chuyên đề.1 Khái niệm động cơ thúc đẩy và một số lý thuyết 1.1 Khái niệm động cơ thúc đẩy Động cơ thúc đẩy được hiểu là những nỗ lực cả ở bên trong lẫn bên ngoài của con người tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động xác định. Động cơ là sức mạnh tinh thần, chủ yếu nảy sinh từ sự nhận thức một nhu cầu nào đó và người lao động mong muốn được thỏa mãn. Động cơ có chức năng định hướng, duy trì và thúc đẩy hoạt động ở chủ thể. Tạo động lực được hiểu là quá trình nhà quản trị sử dụng các biện pháp, nguồn lực nhằm tăng cường động cơ làm việc tích cực cho người lao động.
Có rất nhiều lý thuyết được đưa ra để giải thích vì sao con người hoạt động vì mục đích gì và những nhân tố nào đã khơi đây trong họ sự khao khát, tự nguyện nâng cao lỗ lực của mình để đạt được mục tiêu. Có các lý thuyết tiêu biểu sau.2 Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Theo Maslow (1943) nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tự trọng và nhu cầu tự thể hiện. Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bấc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Từ lý thuyết này, ta có thể thấy nhà quản lý cần phải biết được nhân viên của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào để từ đó động viên nhân viên của mình bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó của họ.1 Các cấp bậc của nhu cầu Maslow “Nguồn: Organizational Behavior” [21] Trong một thời điểm xác định, hành vi của cá nhân bị chi phối bởi nhu cầu mạnh nhất của cá nhân đó.
Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bấc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện tạo ra động lực thúc đẩy. Ứng dụng của lý thuyết này, chỉ khi nào xác định được nhu cầu của nhân viên, xây dựng các điều kiện để hướng họ đến sự thỏa mãn thì mới có thể có tạo ra động lực thúc đẩy nỗ lực làm việc của họ. Để đo động cơ thúc đẩy của nhân viên cần tiến hành khảo sát các yêu tố liên quan mật thiết đến sự thỏa mãn những nhu cầu trên. Ví dụ, để đo động cơ thúc đẩy của nhân viên thông qua khảo sát các nhân tố giúp thỏa mãn nhu cầu sinh lý và an toàn như các nhân tố liên qua đến chính sách đãi ngộ của tổ chức như tiền lương, phụ cấp, trợ cấp.
Hoặc khảo sát các nhân tố giúp thoản mãn nhu cầu xã hội, nhu cầu tự trọng, nhu cầu tự thể hiện như các nhân tố liên quan đến môi trường nhân văn của tổ chức, mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, mối quan hệ giữa nhân viên, phương thức ứng xử của các thành viên trong tổ chức. Các yêu tố liên quan đến sự ghi nhận đánh giá kết quả làm việc và thành tích của nhân viên, hoạt động thưởng trong tổ chức. Các yếu tố liên quan đến sự phân quyền trong tổ chức và phong cách quản lý nhà quản trị. 9 Áp dụng lý thuyết này trong thực tế, nhằm tăng cường động cơ thúc đẩy cho nhân viên thường theo các khảo hướng sau: Xây dựng các đòn bẩy kích thích về mặt kinh tế, vật chất như xây dựng các hình thức thưởng và mức thưởng gắn với quá trình làm việc và kết quả thực hiện công việc của nhân viên.
Chỉ rõ tới nhân viên con đường tiến thân trong quá trình làm việc tại tổ chức, từ đó giúp họ tự rèn luyện và tu dưỡng nâng cao hiệu quả làm việc khẳng định giá trị bản thân, với hy vọng được đề bạt đảm nhận các vị trí quan trọng hay các chức vụ cao hơn trong tổ chức. Xây dựng môi trường làm việc thân thiện, trên cơ sở lấy mối quan hệ giữa con người làm nền tảng, trong đó đặc biệt đề cao và tôn trọng giá trị của con người và của từng người lao động. Quản trị phải coi nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất đối với tổ chức, tập trung khai thác và phát triển. Thực tế, các tổ chức lấy nguồn lực con người là nền tảng, coi trọng giá trị và đề cao vai trò của từng người lao động thì tổ chức đó sinh lực phát triển dồi dào, các nhân viên luôn có động cơ mạnh mẽ thúc đẩy làm việc.3 Thuyết hai yếu tố Frederick Herzberg đã phát triển một thuyết động cơ thúc đẩy khác là thuyết hai yếu tố.
Nằm giữa hai yếu tố đó là sự trung lập, điều đó có nghĩa là nhân viên không thể hiện rõ sự hài lòng hay không hài lòng của mình. Thứ nhất là những yếu tố duy trì: điều kiện làm việc, lương, các chế độ của công ty, mối quan hệ giữa các cá nhân. Thứ hai là những yếu tố tạo động lực thúc đẩy là những nhu cầu cấp cao, nó bao gồm: sự thành đạt, sự thừa nhận, trách nhiệm và cơ hội thăng tiến. 10 Nhân tố thúc đẩy Nhân tố duy trì Thành tựu Giám sá Sự công nhận Chính sách công t Ý nghĩa công việc Mối quan hệ với giám sát viê Tính trách nhiệm Điều kiện làm việ Sự thăng tiến Lươn Mối quan hệ với đồng nghiệ Sự phát triển Mối quan hệ với nhân viê Sự an toà Hoàn toàn thoả mãn Trung Hoàn toàn bất mãn lập Hình 1.2: Thuyết hai yếu tố Herzberg (Nguồn: www.net) [41] Theo thuyết này, khi các yếu tố duy trì được thỏa mãn nó chỉ loại bỏ sự không hài lòng (bất bình) của nhân viên, nhưng nó không kích thích nhân viên đạt được thành tựu cao.
Các nhân tố thúc đẩy mới là những động lực rất mạnh mẽ thúc đẩy nhân viên thực thi công việc hiệu quả cao. Các nhà quản trị muốn nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên phải chú trọng áp dụng đồng bộ cả hai nhóm nhân tố. Dựa theo lý thuyết F. Herzberg đề xuất một biện pháp thúc đẩy nhân viên là “Làm phong phú công việc”.
Tức là quá trình dần dần làm cho người lao động nhận thức được ý nghĩa và mức độ quan trọng của công việc của họ đối với công việc chung và chiến lược phát triển của tổ chức. Dần dần tăng thêm quyền tự chủ, tự điều khiển cho người lao động khi thức hiện công viêc. Vận dụng lý thuyệt trên với đề tài, để đo động cơ làm việc của nhân viên, cần khảo sát các nhân tố thúc đẩy, các nhân tố thúc đẩy được nhân viên nhận thức và đánh giá cao là chỉ báo nói lên rằng động lực làm việc của họ mạnh mẽ. Các nhân tố thúc đẩy có thể chia làm ba nhóm cơ bản.
11 Một các nhân tố liên quan đến quá trình làm việc, cụ thế đó là tính chủ động của nhân viên trong quá trình làm việc, các yếu tố có thể tiến hành khảo sát là sự hiểu biết công việc của nhân viên, đánh giá của người lao động về vai trong và ý nghĩa công việc họ đang đảm nhận, tính chủ động khi thực hiện công việc, các cảm giác thích thú (chán nản) khi thực hiện cộng việc, sự hỗ trợ giúp đỡ của đồng nghiệp trong quá trình làm việc. Nhóm nhân tố thứ hai liên quan đến kết quả làm việc đạt được, các nhân tố có thể tiến hành khảo sát như quy trình đánh giá kết quả và ghi nhận kết quả của tổ chức, sự công bằng, minh bạch trong quá trình ghi nhận kết quả làm việc của nhân viên, sự hiểu biết của nhân viên về các tiêu chí đánh giá kết quả đạt được. Nhóm nhân tố thứ ba là các nhân tố liên quan đến sự phát triển và con đường lập thân lập nghiệp của người lao động, các nhân tố có thể khảo sát như đánh giá của nhân viên về sự thăng tiến, đề bạt trong tổ chức, sự công bằng trong quá trình đánh giá đề bạt người lao động, điều kiện liên quan đến con đường thăng tiến của người lao động đặc biệt là các điều kiện làm việc… Việc phân loại ra thành các yếu tố thúc đẩy, trung lập và duy trì như trên, là điều thuận lợi giúp nhà quản trị nhận diện các nhân tố và có các giải pháp cụ thể để tác động hoàn thiện các nhân tố này nhằm tăng cường động cơ thúc đẩy của nhân viên tăng cường hiệu quả làm việc chung toàn tổ chức. Theo thuyết này nhà quản trị muốn tạo ra động cơ thúc đẩy nhân viên cần tập trung vào các nhân tố thúc đẩy, làm cho nhân viên thấy được trách nhiệm của họ trong công việc, thấy được mối quan hệ giữa sự cố gắng làm và kết quả, tăng dần tự chủ và tự điều khiển cho nhân viên.
Cách thức hiệu quả là tăng cường hoạt động đào tạo và phát triển nhân viên. Tăng cường các yêu tố nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện tại trong tổ chức. Cần thường xuyên xem xét điều chỉnh nhân tố duy trì cho phù hợp với tính chất đặc điểm, môi trường tổ chức. Nâng cao sự thỏa mãn các nhân tố duy trì cách thức hiệu quả là tập trung hoàn hiện thể chế, cớ chế chính sách quản lý, xây dựng các điều kiện làm việc thuận lợi cho người lao động.
Đặc biệt là các yếu tố liên quan đến mối quan hệ giữa con 12 người với con người trong tổ chức, tinh thần đồng đội gắn kết là yêu tố cần để người lao động tập trung nỗ lực phối hợp hành động đạt được mục tiêu đã định.