mở đầu cho kỷ nguyên của phép biện chứng” [29, tr. Chính Hêghen là ngƣời có công trong việc tổng kết các thành tựu của khoa học tự nhiên và xã hội thời đại ông nên đƣợc C. Ăngghen đánh giá không những là một thiên tài mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa. Tiền đề về tƣ tƣởng Ở nƣớc Đức, hệ tƣ tƣởng thần học chiếm vị trí độc tôn trên vũ đài lý luận.
Thần học là khoa học cơ bản trong các trƣờng đại học tổng hợp. Triết học và các môn khoa học xã hội khác nhiều khi chỉ là sự biện hộ và bảo vệ cho thần học. Triết học tiến hành cuộc thỏa hiệp với tôn giáo và đành phải nhƣợng bộ nó trong nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn. Nhìn chung, bức toàn cảnh của xã hội Đức đƣơng thời phủ đầy một màu xám, đúng nhƣ lời khắc họa của Ăngghen “không ai cảm thấy mình dễ chịu, mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn bao trùm cả nƣớc.
Không có giáo dục không có tự do báo chí, không có dƣ luận xã hội - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tƣ, tự lợi, lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe nịnh hót thảm hại, đã xâm nhập toàn dân. Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hi vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc, thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” [13, tr. 754] Trƣớc một thực trạng xã hội rối ren phức tạp và mâu thuẫn chồng chất nhƣ vậy, trong tâm trạng của tầng lớp trí thức Đức đƣơng thời đã xuất hiện tình trạng bi quan, bất mãn và bất lực - đó là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, xuôi chiều, phủ nhận việc cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tại hợp lý của xã hội đương thời. Các nhà tƣ tƣởng lúc này không dám làm cách mạng bằng bạo lực trong hiện thực nhƣ các nhà tƣ tƣởng khai sáng Pháp, họ quay về làm cách mạng trong lý luận trừu tƣợng, trong suy nghĩ.
Họ lấy tƣ duy triết học làm vũ khí phê phán và chuyển tải những tƣ tƣởng cách mạng. Đối với họ triết học là nơi thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực của con ngƣời. Tính chất cải lƣơng thỏa hiệp về tƣ tƣởng chính trị của tầng lớp trí thức Đức đƣơng thời đã có ảnh hƣởng đến các nhà triết học nhƣ Kant, Hêghen, Luan van 14 Phoiơbắc. Bối cảnh kinh tế - xã hội và khoa học Tây Âu cũng nhƣ ở nƣớc Đức nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX đòi hỏi con ngƣời cần có một cách nhìn mới về các hiện tƣợng tự nhiên và tiến trình lịch sử của nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng nhận thức và giới hạn hoạt động của con ngƣời - triết học cổ điển Đức ra đời đáp ứng sứ mệnh lịch sử đó.
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HÊGHEN 1. Về tiểu sử của Hêghen Ghioóc Vinhem Phriđrích Hêghen (Georg Wilhelm Friedrich Hegel, 1770 - 1831) sinh tại Stuttgart, Wurttemberg, nay thuộc miền Nam nƣớc Đức, là một trong số những nhà triết học nổi tiếng của nền triết học cổ điển Đức cùng với Johann Gottlieb Fichte và Friedrich Wilhelm Joseph Schelling. Hêghen là ngƣời xây dựng phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, đặt nền móng cho tƣ tƣởng biện chứng triết học Mácxít và làm hồi sinh triết học với tƣ cách là một hệ thống tri thức về thế giới. Hêghen đƣợc coi là ngƣời sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm Đức và một trong những triết gia có ảnh hƣởng nhất trong triết học Đức ở thế kỷ XIX.
Ông sinh ra trong một gia đình công chức cao cấp ở thành phố Stuttgart, những năm tháng học ở trƣờng trung học thành phố quê hƣơng, chàng thiếu niên ham học, ham hiểu biết đã say mê văn học, lịch sử, triết học, giáo dục học và toán học, đặc biệt là văn hóa Hy Lạp cổ đại. Ông đƣợc giáo dục trong bầu không khí sùng đạo Tin Lành, sau đó đƣợc nghiên cứu các tác phẩm cổ điển của Hy Lạp và La Mã khi theo học trƣờng trung học Stuttgart. Hêghen vào học trƣờng dòng của Đại học Tubingen năm 1788. Tại đây, ông kết bạn với nhà thơ Friedrich Horlderlin và triết gia Friedrich Wilhelm Joseph von Schelling.
Sau khi hoàn tất học trình triết học và thần học, ông quyết định không trở thành mục sƣ mà đi dạy tƣ (1793) tại Bern, Thụy Điển. Năm 1797, ông lại đi dạy tƣ tại Frankfurt. Hai năm sau cha Luan van 15 ông mất, để lại cho ông một gia tài đủ để ông khỏi phải đi dạy tƣ kiếm sống. Năm 1801, Hêghen trở thành giảng viên Đại học Jena và hoàn thành tác phẩm Hiện tượng học tinh thần (1807), một trong những công trình quan trọng nhất của ông.
Năm 1816, Hêghen nhận chức giáo sƣ triết học tại Đại học Heidelberg. Năm 1818, Hêghen đƣợc mời đến giảng dạy tại Đại học Berlin, nơi ông sẽ lƣu lại cho đến ngày qua đời, ngày 14 tháng 12 năm 1831 vì bệnh dịch tả. Về sự nghiệp của Hêghen Mùa xuân năm 1793, Hêghen rời Tubingen đến Bern, sau đó đến Frankfurt am Main. Mùa hè năm 1795 Hêghen hoàn thành tác phẩm “Cuộc đời của chúa Jesus” nội dung của tác phẩm này cho thấy Hêghen hoàn toàn nằm trong vòng vây của các quan niệm Kitô giáo, đi từ chủ nghĩa duy lý của Kant đến chủ nghĩa phiếm thần thần bí.
Tại Frankfurt am Main, Hêghen viết tác phẩm “Tinh thần Kitô giáo và sản phẩm của nó”. Tác phẩm này đánh dấu sự khác biệt giữa Hêghen và Kant trong quan niệm về đạo đức. Sau bảy năm làm trợ giáo ở nhiều nơi, năm 1801 ông đƣợc vào giảng dạy chính thức ở Đại học Jena và ông bảo vệ luận án tiến sỹ với đề tài “Sự chuyển động của các hành tinh”. Sau đó ông đƣợc phong chức giáo sƣ triết học ở Đại học Heidelberg năm 1816.
Trong suốt cuộc đời, Hêghen đã xuất bản bốn quyến sách: 1) Hiện tƣợng học tinh thần, 2) Khoa học Lôgíc, 3) Bách khoa toàn thƣ các khoa học triết học và 4) Những nguyên lý của triết học pháp quyền. Năm 1808 Hêghen bắt đầu viết tác phẩm lớn “Khoa học Lôgíc” khi ông làm hiệu trƣởng một trƣờng trung học ở Nuremberg. Tác phẩm “Khoa học Lôgíc” (The science of Logic) gồm ba quyển xuất bản vào các năm 1811, 1812, 1816 (tái bản năm 1831) là hạt nhân của Lôgíc học và siêu hình học của Luan van 16 triết học Hêghen, trong đó trình bày những quy luật và phạm trù cơ bản của phép biện chứng. Tác phẩm “Bách khoa thƣ các khoa học triết học” (tiếng Đức: Enzyklopädie der philosophischen Wissenschaften im Grundrisse) xuất bản lần đầu tiên vào năm 1817 và tái bản vào năm 1827 và 1830 là sự tóm tắt toàn bộ triết học của Hêghen.
Tác phẩm bao gồm ba phần chính: Phần I. Lôgíc học tóm tắt toàn bộ nội dung đã đƣợc trình bày trong ba quyển “Khoa học Lôgíc” của ông đã đƣợc xuất bản trƣớc đó. Ngoài Phần I, “Bách khoa toàn thƣ các khoa học triết học” còn có thêm hai phần nữa: Phần II. Triết học về tự nhiên và Phần III.
Triết học về tinh thần. Lôgíc của tác phẩm này thể hiện lôgíc phát triển của Ý niệm, đi từ khái niệm lôgíc thuần túy tự vận động, phát triển trong bản thân nó với hệ thống những quy luật nhất định (đƣợc trình bày trong phần I. Khoa học Lôgíc); sau đó Ý niệm tự tha hóa thành giới Tự nhiên (đƣợc trình bày trong phần II. Triết học về tự nhiên) và cuối cùng sau hai lần phủ định, Ý niệm lại trở về với bản thân nó trong Tinh thần tuyệt đối (đƣợc trình bày trong phần II.
Triết học về Tinh thần). Hêghen viết: “Nhƣ thế, Khoa học [Triết học tƣ biện] chia ra làm ba phần: I. Lôgíc học, Khoa học về ý niệm tự - mình và cho - mình II. Triết học về Tự nhiên nhƣ là Khoa học về ý niệm trong sự tồn tại khác của nó [của ý niệm] III.
Triết học về Tinh thần nhƣ là Khoa học về ý niệm quay trở về lại vào trong chính mình từ sự tồn tại - khác của nó. 56] Năm 1821 Hêghen hoàn thành và xuất bản tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền” (tiếng Đức: Grundlinien der Philosophie des Rechts) trên tinh thần duy tâm khách quan. Những quan điểm trong tác phẩm này sau này đƣợc C. Mác trình bày và phê phán trong tác phẩm của mình “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”.
Luan van 17 Sau khi Hêghen qua đời năm 1831, một loạt các công trình khác của ông nhƣ “Bài giảng về lịch sử triết học”, “Triết học lịch sử”, “Bài giảng về mỹ học”, “Bài giảng về triết học tôn giáo” đƣợc học trò biên tập lại và tiếp tục xuất bản. Nhờ những đóng góp triết học lớn cho khoa học, ông trở thành một nhà triết học có uy tín, đông đảo ngƣời hâm mộ, tạo nên một trƣờng phái triết học - trƣờng phái Hêghen. Hêghen là một trong những nhà triết học có ảnh hƣởng lớn đến tƣ tƣởng triết học và văn hóa Châu Âu trong thế kỷ XIX và XX. TÁC PHẨM “KHOA HỌC LÔGÍC” CỦA HÊGHEN “Khoa học Lôgíc” là bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống triết học của Hêghen.
Nó có nhiệm vụ vạch rõ sự phát triển của tinh thần thế giới từ tồn tại thuần túy lên ý niệm tuyệt đối. Hêghen thừa nhận: Tồn tại, bản chất, khái niệm là ba sự quy định chủ yếu, ba hình thức thể hiện chủ yếu của cái tuyệt đối trong quá trình tự phát triển của nó ở lĩnh vực lôgíc. Bƣớc vào xây dựng “Khoa học Lôgíc” của mình, Hêghen nghiên cứu toàn bộ quá trình phát triển các quan niệm lôgíc học trƣớc đây và ông nhận thấy từ trƣớc tới giờ chủ yếu vẫn tồn tại lôgíc hình thức cổ điển, lôgíc học này có vai trò to lớn trong lịch sự phát triển của tƣ duy lôgíc, từng là một trong những phƣơng pháp luận cơ bản của các khoa học trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, bắt đầu từ Bêcơn, Đềcáctơ, tƣ tƣởng xây dựng một hệ thống phƣơng pháp luận mới, một lôgíc học mới đã đƣợc khởi xƣớng.
Hêghen nhấn mạnh, cần phải xây dựng một hệ thống lôgíc học mới trên cơ sở tiếp thu những mặt tích cực của lôgíc học trƣớc đây, đồng thời khắc phục những hạn chế của nó và đem lại cho con ngƣời cách nhìn mới về bản chất của tƣ duy một cách đích thực, mặt khác, nó là một phƣơng pháp luận triết học mới làm nền tảng cho các khoa học khác.