Chương 1 NHỮNG TIỀN DE LÍ THUYET LIEN QUAN DEN DE TAL 1. Vấn đề từ ngữ chỉ mức độ. Trong giao tiếp của người Việt, các từ ngữ chỉ mức độ đã được hình thanh va phat triển trọn vẹn cả về từ loại vả cấu tạo. Lí giải về nguồn gốc hình.
thành của các từ ngữ chỉ mức đô, các nhà ngôn ngữ học như Hồ Lê [29], Nguyễn Tài Cẩn [4], Đỗ Hữu Châu [5]. Cao Xuân Hạo [23] sớm đã nhìn nhận về vai trò, vị trí của các từ ngữ chỉ mức độ. Hồ Lê (1976) xem những trường hợp như đẩy áp, trắng hếu, cũ rích là những từ ghép biểu thị mức độ hết sức cao kèm theo sắc thái biểu cảm nhất định. Trong đó, các nguyên vị hệ thống phụ thuộc, thì có những dấu vết chứng.
tỏ rằng chúng vốn là những loại nguyên vị khác chuyển thành, như: đỏ chót. Ngoài ra, có một số ít nguyện vị hệ thống phụ thuộc còn có khả năng. xuất hiện trong vài từ nhất định: bạc phau, trắng phau; đỏ lòm, chua lòm; tối mịt, mịt mù, mờ mịt; đẳng ngắt, xanh ngắt, lạng ngắt, tẻ ngắt,. chứng tỏ rằng những nguyên vị ấy có theo sau là nguyên vị thực [29].
Ở góc độ từ nguyên, Nguyễn Tài Cẩn (1981) xem các hình thức rrắng bệch, thơm phức, xanh léc. là từ ghép phụ nghĩa, thình thoảng cũng có hiện tượng mắt nghĩa ở từ phụ nhưng không nhiều. Vì theo tác giả “6 lẽ xanh Ie, trắng bệch, thơm phức trước kia cũng có thời kì được nhận thức như kiểu thuộc lay nghĩ: Lẻ ở vùng Mường Ngọc ~ Lặc (Thanh Hóa) có nghĩa là xanh. 'Bệch vốn bắt nguồn từ yếu tố bạch (= trắng) gốc Hán - Việt.
Phức trong tiếng. Hán- Việt cũng có nghĩa là thơm [4]. Đỗ Hữu Châu (1981) xem xanh lẻ, xanh om, xanh rì, thắng đuội, thẳng đơ, thẳng tắp, sưng vù, sung véu. là từ phép một chiều có lè, om, rỉ, đuột, .là từ ghép một chiều có lẻ, ôm, rỉ, đuột, đơ, tấp.
là các hình vị phân nghĩa và xanh, thẳng, sưng, tròn. là hình vị chỉ loại lớn. "Các từ ghép phân nghĩa này có tác dụng sắc thái hóa hình thức phân nghĩa chỉ loại lớn” và các hình vị phân nghĩa thường mắt nghĩa vì theo "phân tích từ nguyên cho thấy ít nhiều chúng đồng nghĩa hoặc liên quan về ngữ nghĩa với ý nghĩa của hình vị chỉ loại lớn”. Từ đó, tác giả khăng định “các ngữ cố định mà từ.
trung tâm nằm ngay trong các ngữ thì đồng nghĩa một cách hiển nhiên với từ. Hoang Van Hành (1991), nhận thấy các đơn vị như aư, ngắt, le eee LA những đơn vị từ vựng biểu thị thuộc tính của thuộc tính, .) chuyên làm chức năng phụ nghĩa bậc hai, “diễn đạt mức độ cao với hai nét nghĩa là: với một vẻ nào đó, gây một cảm giác nhất định theo sự bình giá của người nói” như đỏ aw là đỏ ở mức độ cao, với vẻ tươi, nhìn thấy thích mắt. Từ đó tác giả kết luận các đơn vị như aư, ngắt, lẻ,. là từ vì chúng “có 2 đặc trưng cơ bản.
và tổng quát là: a) chúng có tính độc lập tương đối về hình thái-cú pháp; b) chúng có cơ cấu nghĩa riêng”. 1g thoi tác giả cũng coi những thành ngữ so sánh kiểu nhur cham nlue rit 1, khỏe như vâm. cũng biểu hiện ý nghĩa mức độ cao [19]. Có thể \y Hoàng Văn Hành đã xác định các yếu tố như au, ngất, và các ngữ cố định, như: đỏ au, xanh ngắt, xanh Ì chậm như rùa, khỏe nhụy vân.
là các từ êu thị mức độ cao. Dao Than (1998) có ban các từ, như: hét sức, hết cỡ, hết xảy; cực cực độ, cực kỉ, cùng cực; trứ danh, tuyệt vời, tuyệt diệu. tuyét trdr những từ ngữ vốn đã mang sẵn ý nghĩa phóng đại, tương đương như các phó tức độ được dùng để thể hiện sự phóng đại trong lời nói. Và tác giả coi các cách miêu tả buồn nẫu ruột, tiếc đứt ruột, mệt đứt hơi, sợ hết hẳn, đói rã 10 họng.
là những “đặc ngữ, quán ngữ” biểu hiện ý nghĩa phóng đại luôn luôn xuất phát từ cách nhìn và sự đánh giá chủ quan của người nói [40]. Cao Xuân Hạo (1998), tác giả quyền Tiếng Liệt ~ mấy vấn đề về ngữ âm ngữ pháp ~ ngữ nghĩa xác định: “Các yếu tố ràng buộc tuyệt 4 đối còn xuất hiện sau một số vị từ làm thành những tổ hợp có mô hình trọng âm, như lăn chiéng, say mèm, sáng trưng, đỏ lòm, hôi rình. Đó là những trạng từ chỉ mức tối cao của các tính / vị từ đi trước, kèm thêm một sắc thái biểu cảm nhất định và/hay một ý nghĩa ấn tượng” [23]. Từ các kết quả nghiên cứu như trên có thể thấy, từ ngữ chỉ mức độ là yếu tố ngôn ngữ được sử dụng để biểu thị sự phản ánh, đánh giá của người nói đối với một nội dung nào đó.
Trong ngôn ngữ, để biểu thị mức độ, ta có các phương tiện đề biểu thị mức độ như từ hoặc ngữ chỉ mức độ. Lý thuyết hành động ngôn ngữ 1. Khái niệm hành động ngôn ngữ- “Trong giao tiếp, con người thường thực hiện nhiều hoạt động khác nhau bằng cách sử dụng ngôn từ. Các hành động này được thẻ n đa dạng nhưng.
đều được gọi chung là hành động ngôn ngữ.Austin, nhà triết học người Anh đã đưa ra lý thuyết đầu tiên về hành động ngôn ngữ. Năm 1955, ở trường đại học Haward ông đã trình bày 12 chuyên đề. Sau khi ông mất hai năm, năm 1962, các đồng nghiệp của ông đã tập hợp lại và xuất bản thành sách với nhan để How to do things with words (Người ta hành động như thế nào bằng lời nói). Từ nền móng mà Austin đã xây nên, sau này J.Searle phát triển thành công trình Speech Acts (Hành vỉ ngôn ngữ) năm 1969.
Dựa trên cơ sở lí luận của các công trình trên, các nhà nghiên cứu ngôn. ngữ học Việt Nam đã trình bày khái niệm hành động ngôn ngữ như sau: Theo Nguyễn Như Ý, thì hành động ngôn ngữ chính a: “Hanh dng sử dụng ngôn từ nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp” [5S]. " Theo Đỗ Hữu Châu: “Khi nói năng là chúng ta thực hiện một hành động. đặc biệt mà phương tiện của nó là ngôn ngữ.
Con người dùng ngôn ngữ để nói với nhau, thông tin cho nhau về các nội dung khác nhau, làm cho nhau cùng, biến đổi, ta gọi là hành động ngôn ngữ” [10, tr.265], Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Các hành đông được thực hiện bằng lời nói là hành động ngôn từ.hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của phát ngôn [18, tr. Nói tóm lại, hành động ngôn ngữ gắn liền với hành động nói năng của. con người, là hành động ngôn ngữ mang tính chất xã hội. Phân loại hành động ngôn ngữ" Hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất trong các đơn vị tạo nên hội thoại.Austin cho rằng, khi phát ngôn một câu nào đó, người ta thực hiện đồng thời.
ba hành động: Hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lời. Hành động tạo lời (locutionary act): Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp đề tạo thành những phát ngôn có hình thức và nội dung. Nói một cách đơn gián, hành động tạo lời là hành động nói ra một điều gì đó. Nhờ hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa.
Hành động mượn lời (perlocutionary ae): Hành động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, mượn các phát ngôn để tạo nên sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe. Hiệu quả này không đồng nhất ở những người khác nhau. Hiệu quả của hành động mượn lời tác động đến người nghe hết sức khác nhau, phân tán, không có tính quy ước. Hành động ở lời (locuionary act) Hành động ở lời là hành động được người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quả của chúng là những sự tác động trực tiếp thuộc ngôn ngữ, 12 nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với người nhận. Sở i ta gọi là hành động ở lời vì khi nói thì ta đồng thời thực hiện một hành đông ở trong lời (còn gọi là hành động tại lời, hành động trong lời). Trong ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lời thì hành động ở lời là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học. Các hành động ở lời được chỉ phối bởi những quy tắc được mọi người trong cộng.
đồng ngôn ngữ thừa nhận và tuân theo một cách tự gi 1. Phân loại hành động ở lời Hành động ở lời là hành động mà con người thực hiện ngay khi nói ra một phát ngôn và thực hiện bằng chính phương tiện ngôn ngữ. Khi nói năng, con người thực hiện nhiều loại hành động ở lời, như chào hỏi, cám ơn, xin lỗi, cầu khiển, cam đoan, cảm thán, khen, chê, mắng chửi, phàn nà „ Xung quanh vấn đề phân loại và tổng hợp các nhóm hành động ở lời có nhiều cách. Ở đây, chúng tôi chọn hướng phân loại hành động ở lời của J.Ausitin đưa ra S phạm trù nhân loại về hành động ở lời, gồm: (i) Phán xử (verdiives, verdif) gồm các động từ như: phân tích, đánh giá, phân loại, miêu tả, nêu đặc điểm.
(i) Hanh xit (exercitivers, exercitifs) gdm các động từ như: rư lệnh, giới thiệu, van xin, tinh toán, miêu tả, phân tích, đánh giá, nêu đặc điểm. (ii) Cam kết (commiissives, commissifs) gồm các động từ như: ñứa hẹn, cam kết, thê nguyên, giao ước, đảm báo, bày tö, mong mu‹ (iv) Ứng xử (behabidves, comportementaux) các động từ như: chảo mừng, cảm ơn, khen ngợi, xin lôi, thách thức, nghỉ ngờ, phê phán. (v) Trình bay (expositifS) các động từ như: nhượng bộ, phản bác, khẳng định, phú định, dẫn thí dụ, báo cáo các ý kiến, chối, trả lời. 13 ~ Theo hướng của J.Searle sẽ đưa ra 12 điểm làm tiêu chí phân loại, trong số đó, có bốn tiêu chí cơ bản nhất (tiêu chí đích, tiêu chí hướng khớp.
ghép, tiêu chí trạng thái tâm lý và tiêu chí nội dung mệnh đề) các hành động ngôn ngữ ở lời được chia làm năm nhóm, gồm: (0) Tái hiện (representatives) gồm: than thở, két luận, suy diễn, khoe,. (ii) Điều khiển (directives) gồm các động từ như: yêu cẩu, ra lệnh, hỏi, cho phép,. (ii) Cam kết (commissives, ommissifs) gồm các động từ như: hứa hẹn, tặng, biểu, (iv) Biéu cam (expressives, expressifs) gdm các động từ như: mong muốn, vui thích, khó chịu, ruộng rẫy. (v) Tuyén bé (declarations, descleratifs) gồm các động từ như: tuyén bd, buộc tội.