CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm từ Bàn về khái niệm từ, trước đến nay có rất nhiều ý kiến đứng ở nhiều góc độ khác nhau. Hầu hết đều chưa có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ. Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một ngôn ngữ.
Hiện có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ. Nói chung, chưa có định nghĩa nào làm mọi người thỏa mãn. Khái niệm về từ đầu tiên do các nhà ngôn ngữ Ấn Âu đưa ra. Chẳng hạn học phái Alex-xan-dri đã định nghĩa: “Từ là đơn vị nhỏ nhất trong chuỗi lời nói" (Dẫn theo V.Zveghinxep, Lịch sử ngôn ngữ học thế kỉ XIX - XX, bằng tiếng Nga, M.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu như : Lê Văn Lý, Phan Khôi, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Đỗ Hữu Châu, Đỗ Thị Kim Liên… đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ. Các định nghĩa về từ, nhìn chung ở mặt này hay mặt khác đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao hàm hết được tất cả các đặc trưng của từ trong các ngôn ngữ khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi xin đưa ra một định nghĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [10, tr. Lấy đó làm cơ sở để khảo sát từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính.
Khả năng kết hợp của từ - Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, từ không biến đổi hình thái do đó khả năng kết hợp của từ có một vai trò quan trọng làm bộc lộ ý 11 nghĩa ngữ pháp của từ. Ví dụ cùng là một từ suy nghĩ nhưng kết hợp với các hư từ khác nhau mang ý nghĩa ngữ pháp khác nhau. Chẳng hạn kết hợp với đang (đang suy nghĩ), suy nghĩ là động từ chỉ hoạt động trí tuệ. Nhưng nếu cho kết hợp với những ở đằng trước, ấy ở đằng sau (những suy nghĩ ấy) thì suy nghĩ không còn là một động từ nữa mà đã chuyển thành danh từ biểu thị khái niệm trừu tượng.
- Khả năng kết hợp của một từ là năng lực tiềm tại của từ đó xuất hiện trong một tổ hợp từ có nghĩa với tư cách một yếu tố thường trực trong tổ hợp từ đó. Cho đến nay, khả năng kết hợp của từ trong tiếng Việt được hiểu ở ba mức độ như sau: + Khả năng kết hợp với hư từ: Khả năng kết hợp với hư từ nói lên được bản tính từ loạị của từ đang xét. Những từ có tác dụng làm bộc lộ bản tính từ loại của từ cần xét như vậy được gọi là những chứng tố ( còn gọi là chứng tự, từ chứng, từ kiểm chứng, từ nhân chứng). Chứng tố là những từ có ý nghĩa khái quát, những ý nghĩa quan hệ hay tình thái, thường chỉ kết hợp với những từ thuộc một loại nhất định.
Với những chứng tố, thường chỉ xác định được ba lớp từ chính trong tiếng Việt là lớp danh từ, lớp động từ và lớp tính từ (thêm vào đó là lớp động từ chỉ trạng thái tâm lí). Ví dụ những từ có thể xuất hiện trước các chỉ định từ: này, nọ. thì thuộc lớp danh từ; những từ có thể đứng sau đang, vẫn, hãy, đừng, chớ…thuộc lớp động từ; những từ có thể đứng sau rất phần lớn thuộc lớp tính từ. Những từ vừa có thể đứng sau hãy, đừng, chớ vừa có thể đứng sau rất là những động từ chỉ các hiện tượng tâm lí.
+ Ở mức độ ổn định hơn, khả năng kết hợp của từ được đặt trên cơ sở cách cấu tạo của cụm từ chính phụ. So với cách định loại từ bằng chứng tố, tư tưởng này có bước tiến rõ rệt hơn là bao quát được nhiều lớp từ hơn. Chẳng hạn nêu ra được các lớp phó từ của động từ, phân biệt chúng với các lớp con phó từ chuyên đi kèm với danh từ…Tuy nhiên cấu tạo của cụm từ 12 chính phụ vẫn chưa bao quát được tất cả các từ tồn tại thực trong tiếng Việt, còn để lại những từ chỉ xuất hiện ở bậc câu. + Bởi lẽ đó, mức độ rộng nhất của sự kết hợp từ với từ, có khả năng bao quát được toàn bộ kho từ tiếng Việt phải tính đến các yếu tố không nằm trong cụm từ.
Như vậy, đặc trưng về khả năng kết hợp của các lớp từ là dấu hiệu chủ yếu về ngữ pháp, có tác dụng quyết định trong việc phân định, quy loại các lớp từ tiếng Việt về mặt từ loại. Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu. Mỗi từ loại (nhất là các từ loại cơ bản) có khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp khác nhau ở cấu trúc câu. Nói cách khác, một chức vụ ngữ pháp cụ thể có thể do những từ thuộc các từ loại khác nhau đảm nhiệm.
Ví dụ: - Sao rất sáng. (Chủ ngữ là danh từ) - Nó cảm thấy rất mệt mỏi. (Chủ ngữ là đại từ) - Thù hận làm con người già đi. (Chủ ngữ là động từ) - Đẹp nết hơn đẹp người.
(chủ ngữ là cụm tính từ) Trong các chức năng mà mỗi lớp từ loại có thể đảm nhiệm, cần chú ý tới các chức năng chủ yếu, phổ biến, thường trực ở mỗi từ loại; cần phân biệt chức năng nguyên cấp (chuyên biệt) với chức năng thứ cấp (lâm thời) ở mỗi từ loại. Khái niệm chức năng không nên hiểu một cách bó hẹp, chỉ quan hệ với thành phần câu, với các chức vụ chính của câu, mà có thể chức vụ cú pháp chỉ quan hệ với một từ ở trong một thành phần của câu (trường hợp phụ ngữ của từ trong câu). Từ loại chỉ xem xét chức vụ cú pháp nào có tác dụng làm rõ đặc tính ngữ pháp của từ và giúp cho việc phân biệt phạm trù từ loại này với phạm trù từ loại khác. Điều quan trọng bậc nhất là cần nhận rõ mối quan hệ giữa bản chất từ loại với chức vụ ngữ pháp.
Bản chất từ loại bao gồm nhiều đặc trưng, trong đó có chức vụ cú pháp. Nó là cái chính, ổn định, quyết định chức vụ cú pháp 13 của từ. Chức vụ cú pháp của từ chỉ là biểu hiện cụ thể một đặc tính ngữ pháp của từ loại (nó không phải là cái duy nhất và càng không phải là toàn bộ đặc tính ngữ pháp của từ). Chức vụ cú pháp chỉ là cái lâm thời, khả biến, phụ thuộc vào bản chất từ loại của từ.
Khi nghiên cứu từ loại, chức vụ cú pháp của từ là cần thiết, giúp cho việc phát hiện đầy đủ hơn các đặc trưng hoạt động ngữ pháp của từ. Từ chỉ tâm trạng trong Tiếng việt 1. Khái niệm tâm trạng Theo nhà văn Pháp Victor HuGo: “cái rộng lớn nhất trên thế giới này là biển cả, cái rộng lớn hơn biển cả là bầu trời, còn rộng lớn hơn cả bầu trời là tâm hồn con người”. Thật vậy, thế giới tâm hồn của con người vô cùng phong phú và kì diệu.
Con người là động vật cao cấp nhất, cũng là động vật có trạng thái tâm lý, tình cảm, cảm xúc cực kì phức tạp và đa dạng. Loài người đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, lí giải, cắt nghĩa hiện tượng tâm lý của chính mình. Khoa học tâm lý học đã ra đời từ rất sớm, có thể nói là song hành với sự hình thành, phát triển của loài người và ngày càng gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng. Từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm lý, trải qua một thời gian dài nghiên cứu thử nghiệm, loài người đã chứng kiến biết bao cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các khuynh hướng, tư tưởng khác nhau.
Trong đó có sự khác biệt giữa quan điểm của các nhà chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Các nhà chủ nghĩa duy tâm cho rằng: “Hiện tượng tâm lý là bản chất siêu hình đặc biệt của sinh vật và được gọi là linh hồn”. Còn các nhà chủ nghĩa duy vật lại cho rằng: “Tâm lý là biểu hiện của vật chất, là sản phẩm dưới dạng đặc biệt của vật chất, có tổ chức cao là não bộ của con người”. Các khuynh hướng trên vẫn còn nhiều tranh luận và hiện nay vẫn còn chưa ngã ngũ.
Nhưng chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất: Tâm lý là sự phản ảnh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt động 14 thần kinh và hoạt động nội tiết, được nảy sinh bằng hoạt động sống của từng người và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch sử. Tâm lý của con người là kết quả của quá trình xã hội hóa. Con người sống trong xã hội do đó chịu sự tác động của xã hội, mang những đặc trưng của xã hội đó. Xã hội - trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ có những đặc trưng và đặc điểm tâm lý riêng biệt.
Hiện tượng tâm lý là những hiện tượng phức tạp nằm ngay trong thực thể diễn biến theo các cung bậc tình cảm và ý thức khác nhau khi chủ thể cảm nhận, tự giác nhận thức hoặc bị tác động bởi đối tượng nào đó. Phân loại theo thời gian tồn tại và quá trình diễn biến, các nhà nghiên cứu chia hiện tượng tâm lý ra làm ba loại: Quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý (hay còn gọi là tâm trạng) và thuộc tính tâm lý. Các quá trình tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có bắt đầu, diễn biến và kết thúc. Ví dụ: các quá trình nhận thức như cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, các quá trình giao tiếp.
Các trạng thái tâm lý là các hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài và đóng vai trò làm nền cho các quá trình tâm lý và các thuộc tính tâm lý biểu hiện ra một cách nhất định. Với các trạng thái tâm lý chúng ta thường chỉ biết đến khi nó đã xuất hiện ở bản thân, tuy nhiên thường không biết được thời điểm bắt đầu và kết thúc của chúng. Ví dụ: Trạng thái tập trung, trạng thái mệt mỏi, trạng thái giận hờn, trạng thái buồn tủi,.