phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung Trong chƣơng này, chúng tôi hệ thống những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài nhƣ: nghĩa, trƣờng nghĩa, tác giả và tác phẩm và phong cách của Nguyễn Tuân. Chƣơng 2: Biểu hiện hình thức của trƣờng nghĩa chỉ hiện tƣợng tự nhiên trong tác phẩm của Nguyễn Tuân Ở chƣơng này, chúng tôi khảo sát trƣờng nghĩa chỉ hiện tƣợng tự nhiên và miêu tả biểu hiện hình thức của các tín hiệu điển hình thuộc trƣờng nghĩa chỉ hiện tƣợng tự nhiên trong tác phẩm của Nguyễn Tuân. Chƣơng 3: Biểu hiện ý nghĩa của các tín hiệu điển hình thuộc trƣờng nghĩa chỉ hiện tƣợng tự nhiên trong tác phẩm của Nguyễn Tuân Ở chƣơng này, chúng tôi phân tích biểu hiện ý nghĩa của các tín hiệu điển hình thuộc trƣờng nghĩa chỉ hiện tƣợng tự nhiên để thấy đƣợc cách sử dụng ngôn từ đặc sắc của nhà văn Nguyễn Tuân trong việc biểu đạt chủ đề tƣ tƣởng của tác phẩm. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Những vấn đề cơ bản về nghĩa và trƣờng nghĩa 1. Những vấn đề về nghĩa 1. Khái niệm nghĩa Trong ngôn ngữ học nói chung và ngữ nghĩa học nói riêng, nghĩa là một vấn đề trọng tâm. Do đó, khái niệm về nghĩa đƣợc các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm nhƣng đến nay vẫn chƣa có quan niệm thống nhất.
Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, nghĩa đƣợc giải thích nhƣ sau: “1. Sự phản ánh đối tượng của hiện thực (các hiện tượng, các quan hệ, phẩm chất, quá trình) vào trong nhận thức, trở thành một yếu tố của ngôn ngữ nhờ tạo nên mối quan hệ thường trực, liên tục với một chuỗi âm thanh nhất định nhờ đó sự phản ánh hiện thực trong nhận thức được hiện thực hóa. Sự phản ánh hiện thực này tham gia trong cấu trúc của từ như là mặt bên trong, mặt nội dung trong quan hệ với mặt âm thanh là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa và thông báo nó cho người khác, mà còn cần thiết cho chính sự hình thành, nảy sinh, tồn tại và phát triển của nó. Toàn bộ các chức năng của toàn bộ các đơn vị ngôn ngữ; tất cả những điều được các đơn vị ngôn ngữ này biểu hiện, phản ánh là mặt nội dung của chúng.
Ví dụ: nghĩa chuyển; nghĩa số lượng; nghĩa nguyên nhân” [39, tr. Nguyễn Thiện Giáp đã nêu ra một số quan niệm khác nhau về nghĩa. Theo ông, những ý kiến bàn về nghĩa của từ cũng nhƣ các đơn vị ngôn ngữ khác nổi lên hai khuynh hƣớng: “1) Cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh. 2) Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng, hoặc quan hệ của từ với khái niệm.
Tuy nhiên, cả hai hƣớng này khi đặt trong hệ thống ngôn ngữ thì có 8 nhiều mâu thuẫn. Khi bàn về nghĩa của từ, Đỗ Hữu Châu đã đƣa hình tháp nghĩa hình học không gian. TỪ – TRỪU TƢỢNG Tƣ duy Ngƣời dùng Chức năng Sự vật tín hiệu học Hệ thống ngôn ngữ Theo Đỗ Hữu Châu, ƣu điểm của mô hình tháp nhọn này là vừa tách đƣợc những thực thể đang xem xét (từ, nhân tố) ra khỏi nhau vừa vạch ra quan hệ giữa chúng. Saussure đã chứng minh rằng “giá trị của yếu tố này chỉ là hệ quả của sự tồn tại đồng thời của những yếu tố khác” [27, tr.
Theo Đỗ Hữu Châu: “Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ” [3, tr. Hay: “Nghĩa của từ là hợp điểm, là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa. Trong số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ. Hai nhân tố ngoài ngôn ngữ là sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, có thể thuộc thế giới nội tâm, có thể thuộc thế giới ảo tưởng.
Nhân tố kia là các hiểu biết về loại nhân tố thứ nhất” [3, tr. Nhƣ vậy, ta có thể hiểu nghĩa (của từ hay một đơn vị ngôn ngữ nào đó) là toàn bộ nội dung tinh thần đƣợc gợi ra, là cái biểu đạt, có tính ổn định, gắn chặt với hình thức của ngôn ngữ. Hay nói cách khác, nghĩa là toàn bộ nội dung thông tin mà một đơn vị ngôn ngữ nào đó thể hiện. 9 Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng quan niệm về nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu để nghiên cứu.
Các thành phần nghĩa a. Nghĩa biểu vật Nghĩa biểu vật là “sự phản ánh sự vật, hiện tượng. trong thực tế vào ngôn ngữ. Đó là những “mẩu”, những “mảnh”, những “đoạn cắt” của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế” [3, tr.
Ví dụ 1: Nghĩa biểu vật của từ đứng (trạng thái của con ngƣời, động vật): anh ấy đứng, con gà đứng,. (trạng thái của sự vật): đứng gió, đứng bóng,. Đứng (trạng thái tâm lí): đứng hình, đứng sững,. Mối quan hệ giữa từ trừu tƣợng với sự vật, hiện tƣợng sẽ hình thành nên nghĩa biểu vật.
Tuy nhiên, đây là một mối quan hệ phức tạp. Vì nghĩa biểu vật của từ và sự vật ngoài ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Nghĩa biểu niệm Theo Đỗ Hữu Châu, nghĩa biểu niệm “là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định.
Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ. Tập hợp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ được gọi là cấu trúc biểu niệm” [3, tr. 10 Nghĩa biểu niệm đƣợc hình thành từ mối quan hệ giữa từ trừu tƣợng với tƣ duy. Do đó, nghĩa biểu niệm mang nét đặc thù của từng ngôn ngữ, mang tính dân tộc và mang những đặc trƣng riêng của từng nền văn hóa.
Trong cấu trúc biểu niệm của từ, nét nghĩa đầu tiên là nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ, còn các nét nghĩa càng về sau càng giảm dần mức độ khái quát, thể hiện những thuộc tính riêng của từ. Những nét nghĩa này mang đặc trƣng khu biệt nghĩa của từ. Nghĩa biểu thái Nghĩa biểu thái là “những nhân tố đánh giá như to - nhỏ, mạnh - yếu. nhân tố cảm xúc như dễ chịu, khó chịu, sợ hãi.
nhân tố thái độ như trọng, khinh, yêu, ghét. mà từ gợi ra cho người nói và người nghe” [3, tr. Từ định nghĩa trên, ta hiểu nghĩa biểu thái là nét nghĩa biểu thị tình cảm, thái độ, đánh giá của ngƣời nói về sự vật, hiện tƣợng. Nghĩa biểu thái đƣợc tạo ra từ mối quan hệ giữa từ trừu tƣợng với ngƣời dùng, sự vật, hiểu biết.
Nghĩa biểu thái chia làm ba cấp độ: dƣơng tính (tích cực), âm tính (tiêu cực), trung hòa (không có nghĩa biểu thái). Ví dụ 3: Biểu thái tích cực Trung hòa Biểu thái tiêu cực xơi, dùng ăn nuốt, thồn, dộng hiến, tặng cho bố thí đen tuyền đen đen thui 1. Những vấn đề về trường nghĩa 1. Khái niệm trường nghĩa Từ vựng - một trong những đơn vị cơ bản của ngôn ngữ - là một hệ thống bao gồm những đơn vị từ vựng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Cơ sở của mối quan hệ đó chính là ngữ nghĩa. Theo các nhà ngôn ngữ học, các từ 11 ngữ có sự đồng nhất nào đấy về nghĩa tạo thành một nhóm, gọi là trƣờng nghĩa. Theo Nguyễn Thiện Giáp, lí thuyết trƣờng nghĩa ra đời để “chứng minh cho tính hệ thống của từ vựng” [8, tr. Lí thuyết trƣờng nghĩa (hay trƣờng từ vựng - ngữ nghĩa) bắt nguồn từ trƣờng phái ngôn ngữ duy tâm W.
Humboldt và quan niệm của F. Saussure: “Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định” [27, tr.224] và “phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng” [27, tr. Nhƣng ngƣời có công đƣa khái niệm “trường” vào ngôn ngữ học là hai nhà ngôn ngữ học ngƣời Đức J. Weisgerber là các trƣờng có tính chất đối vị (trƣờng trực tuyến, trƣờng nghĩa dọc).
Porzig - nhà ngôn ngữ học ngƣời Đức - phân chia trƣờng theo nguyên tắc liên tƣởng (trƣờng nghĩa ngang, trƣờng tuyến tính). Ở Việt Nam, lí thuyết trƣờng nghĩa đƣợc quan tâm từ năm 1970. Từ đó đến nay, trƣờng nghĩa luôn là một trong những vấn đề nghiên cứu quan trọng của ngữ nghĩa học cấu trúc và miêu tả. Việc nghiên cứu, ứng dụng trƣờng nghĩa vào hoạt động giao tiếp và tìm hiểu tác phẩm văn học.
đƣợc các nhà ngôn ngữ học Việt Nam chú trọng nhƣ Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Việt Hùng, Đái Xuân Ninh, Bùi Minh Toán. Khái niệm trƣờng nghĩa cho đến nay vẫn chƣa có một quan niệm thống nhất. Mỗi tác giả có một quan niệm khác nhau về trƣờng nghĩa. Nguyễn Thiện Giáp quan niệm “Trường nghĩa là phạm vi những đơn vị từ vựng có quan hệ lẫn nhau về nghĩa” [8, tr.
Nói nhƣ vậy, ta có thể hiểu những đơn vị từ vựng trong một trƣờng nghĩa phải có chung một thành tố nghĩa nào đó thì mới tạo nên quan hệ về nghĩa. Việc xác định trƣờng nghĩa cần phải dựa vào những thành tố nghĩa chung này. 12 Theo Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp “Trường ngữ nghĩa (còn gọi là trường từ vựng) là những tiểu hệ thống, những tổ chức của từ vựng, gồm những từ ngữ có quan hệ về nghĩa với nhau một cách có hệ thống” [22, tr. Từ vựng trong một ngôn ngữ luôn tồn tại trong một hệ thống.
Vì hệ thống từ vựng quá lớn nên việc chia thành những tiểu hệ thống phải căn cứ vào quan hệ nghĩa của những đơn vị từ vựng. Theo Đỗ Việt Hùng “Các từ ngữ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa” [15, tr. Theo cách hiểu này, ta thấy các đơn vị từ vựng trong một hệ thống luôn có mối quan hệ nhất định. Đó chính là quan hệ về nghĩa.
Theo Đỗ Hữu Châu “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [3, tr. Quan niệm trƣờng nghĩa này có tính chất định hƣớng cho các quan niệm và những nghiên cứu về trƣờng nghĩa ở Việt Nam sau ông. Ví dụ 4: Trƣờng nghĩa con người.
(Bộ phận): đầu, tay, chân, mắt, mũi, tai, miệng,. (Hoạt động): ăn, học, đi, ngủ, suy nghĩ,. Con ngƣời (Tính chất): thông minh, nhanh nhẹn, cần cù, .