Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có bố cục 2 chương với 4 tiết. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC VĂN HÓA LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC XƠ ĐĂNG Ở KON TUM 1. Văn hóa và vai trò của văn hóa trong sự phát triển 1. Khái niệm văn hóa Trong lịch sử triết học, vấn đề tồn tại người, bản chất, vai trò của con người trong thế giới.
luôn được quan tâm sâu sắc bởi nhiều trường phái triết học. Bởi lẽ, trong quá trình tồn tại và phát triển, con người đã học tập giới tự nhiên, làm phong phú thêm cho tri thức của mình và cho cả bản thân giới tự nhiên bằng lao động, hoạt động thực tiễn của mình. Chính với quá trình đó, con người đã sáng tạo ra “giới tự nhiên thứ hai” – tức là văn hóa. Văn hóa ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người với xu thế ngày càng khẳng định những ý tưởng, tinh thần và cả những ý nghĩa của hoạt động, của đời sống.
Cùng với thời gian, văn hóa đã kết tinh lại thành những giá trị. Cuộc sống con người là sự sáng tạo, duy trì và bổ sung những giá trị mới, phù hợp với chuẩn giá trị của một thời đại nhất định vào kho tàng giá trị của các thế hệ đi trước. Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, con người bước đầu chinh phục tự nhiên bằng sức mạnh trực tiếp của chính mình. Phương thức sản xuất săn bắt, hái lượm đã gắn kết con người thành một cộng đồng, sinh hoạt theo bầy đàn và chưa có ranh giới nào cách biệt trong đời sống, sinh hoạt của họ.
Để đảm bảo sự sinh tồn, con người bằng nhiều cách đã tác động, chinh phục và bắt tự nhiên phục vụ cho mình. Sức mạnh cá thể được tập hợp, sinh hoạt phải tương đồng và nhu cầu giao tiếp nẩy sinh. Mặc dù trình độ vật chất và sinh hoạt tinh thần còn thấp kém, nhưng vẫn chứa đựng những chân giá trị. Con người đã biết giao tiếp, tương trợ lẫn nhau trong tiến trình tìm kiếm sự sinh tồn và chống chọi với thách thức của thiên nhiên.
Cùng với thời gian, con người đã biết sử dụng lực lượng tự nhiên để chinh phục tự nhiên, biết chế tạo công cụ mà ban đầu rất thô sơ để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Đó là bước đầu con người đã thực hành văn hóa trong đời sống. 8 Do vậy, ngay từ buổi bình minh của nhân loại, dù chưa có ngôn ngữ và chữ viết, tri thức về thế giới còn rất sơ khai nhưng con người đã thực hành văn hóa trong đời sống. Dù là những cử chỉ, những hành động, những kí hiệu và những công cụ thô sơ nhưng đã chứa đựng ý tưởng, những giá trị mang màu sắc văn hóa của con người.
Nói về văn hóa, tác giả Nguyễn Huy Hoàng giải thích rằng, “Văn là những cái tốt đẹp của cuộc sống đã được đúc kết lại ở dạng ký hiệu biểu tượng. Hóa là đem những điều đúc kết được đó “hóa thân” trở lại cuộc sống. Khái niệm “Văn” và “Hóa” ấy dần hợp thành một khái niệm thống nhất. Trong quẻ sơn hóa bí của sách Chu dịch, khái niệm văn hóa như một quá trình gồm hai giai đoạn đã được diễn đạt như sau: Giai đoạn 1 xuất phát từ hai nguồn là kinh nghiệm sống và quy luật tự nhiên để trở thành cái Văn của con người (gọi là nhân văn).
Giai đoạn 2 là đem cái nhân văn ấy hóa thành cuộc sống (nhân văn hóa thành thiên hạ)”[11, tr. Trong xã hội Phương Tây từ thời Phục Hưng và cận đại, khái niệm văn hóa dùng để nói đến những lĩnh vực của hiện thực, lĩnh vực hoạt động của con người như một chủ thể tự do và sáng tạo. Các nhà triết học thời kỳ này tiếp cận văn hóa bằng nhiều cách khác nhau trên quan điểm chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa duy lý, quan điểm lịch sử hoặc chủ nghĩa tự nhiên…Song, đều nhìn nhận văn hóa như sự tồn tại chân chính của con người, đối lập với tính tự nhiên. Với ý nghĩa đó, văn hóa được xem là sự phát triển của con người phù hợp với bản chất của chính mình.
Các nhà triết học duy tâm Đức đi tìm cơ sở của văn hóa trong lĩnh vực thẩm mỹ, lĩnh vực tinh thần và trong triết học. Vấn đề văn hóa trong hệ thống triết học I. Kant, bước đầu được xem xét như một chỉnh thể: “Ông chỉ gọi những gì đem lại phúc lợi cho con người - một hệ thống các giá trị nhân đạo - là văn hóa”. Bộ ba tác phẩm có tựa đề phê phán: “Phê phán lý tính thuần tuý”, “Phê phán năng lực thực tiễn” và “Phê phán năng lực phán đoán” là sự suy ngẫm về con người theo chiều hướng giá trị của cái chân - thiện- mỹ.
Từ đó, Kant đặt ra và trả lời câu hỏi: con người hoạt động như thế nào trong lĩnh vực nhận thức, trong hoạt động đạo đức, trong sáng tạo và cảm thụ nghệ 9 thuật? Với bộ ba đó, văn hóa được nhìn nhận như một chỉnh thể hữu cơ tạo nên con người tự do sáng tạo như chủ thể đích thực của sự phát triển xã hội. Ở Hêgen, những quy luật logic được xem như là quy luật của quá trình chuyển hóa cái khách quan thành cái chủ quan và ngược lại, của quá trình mà ở đó một phần của giới tự nhiên được chuyển hóa thành thân thể văn hóa. “Logic biện chứng của Hêgen chính là logic văn hóa của nhân loại, là cái được gọi là triết học văn hóa của ngày nay”. Theo Hêgen, con người trong hoạt động hiện thực đã đối tượng hóa hình thức của tư duy, của hoạt động vào thế giới các đồ vật; chuyển tư duy từ tự mình sang tư duy cho mình.
Theo đó, khái niệm do tư duy đưa ra “chính là chân lý, là hình thức của ý niệm tuyệt đối, của tinh thần, của văn hóa”. Với góc độ này, Hêgen xem văn hóa là phương thức hay hình thức hoạt động của con người. Khi đã hình thành, văn hóa không chỉ là kết quả của hoạt động vật chất và tinh thần của con người mà còn là khách thể của chính quá trình nhận thức. Vì đứng trên cơ sở lập trường khác nhau mà cách lý giải của các nhà triết học về văn hóa cũng khác nhau.
Quan điểm duy tâm cho rằng văn hóa là sản phẩm của ý niệm tuyệt đối, của đấng siêu nhiên nào đó sinh ra thông qua hoạt động của con người hoặc là sản phẩm của ý chí của bậc đế vương, của anh hùng dân tộc, của lãnh tụ…sinh ra. Quan điểm duy vật siêu hình xem văn hóa ở những góc độ khác nhau thiếu tính toàn diện và không đề cập đến tính kế thừa các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội. Và từ việc tìm hiểu và chỉ ra các hạn chế của các quan điểm đó, quan điểm duy vật biện chứng đã vạch rõ nguồn gốc, bản chất, cũng như quá trình phát triển của văn hóa. Ăngghen, trong các tác phẩm của mình không trực tiếp bàn đến văn hóa như một lĩnh vực độc lập.
Nhưng trong khi phân tích mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội, tồn tại xã hội và ý thức xã hội, Mác đã gián tiếp thể hiện tư tưởng về văn hóa. Theo đó, văn hóa được xem là giá trị của toàn bộ hoạt động người và những thành tố thuộc về ý thức xã hội, bị quy định bởi tồn tại xã hội. Lao động cùng với ngôn ngữ và tư duy là cơ sở hình thành văn hóa. Trong tác phẩm “Luận cương về Feuerbach”, C.
Mác đã chỉ ra tính siêu hình máy móc và phiến diện của chủ nghĩa duy 10 vật cũ trong việc xem xét mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Đó là mặt hoạt động của con người không được nhìn nhận đúng đắn. Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm lại đề cập và phát triển mặt hoạt động của con người trong quan hệ với khách thể nhưng theo hình thức duy tâm, thần bí. Ăng ghen đã chọn cho mình điểm xuất phát để nghiên cứu xã hội là hoạt động sống của con người.
Đó cũng là thực thể của văn hóa. “Tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng mà thôi. Đó là những cá thể hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những hoạt động của chính họ tạo ra” [29, tr. Từ sự phân tích mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, hoạt động và đối tượng, C.
Mác đã có cách nhìn biện chứng về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, chỉ ra rằng: con người là “một thực thể song trùng” giữa “cái tự nhiên” và “cái xã hội”. Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, nhưng yếu tố làm nên bản chất của con người chính là sự tồn tại người với tư cách là “thực thể xã hội”. Trong “Luận cương về Feuerbach”, Mác viết: “. bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”[27, tr. Mác xem xét đời sống xã hội như một chỉnh thể hữu cơ bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất con người, trong đó sản xuất con người giữ vị trí trung tâm. Nếu hiểu văn hóa ở góc độ sản xuất con người thì logic phát triển văn hóa là quá trình biểu thị mức độ phát triển tự do và sáng tạo của con người trong lịch sử. Trong quá trình hoạt động, con người đã khách thể hóa lực lượng bản chất của mình vào giới tự nhiên chưa được khai phá, tạo nên “thiên nhiên thứ hai”, cái mà con người thường gọi là văn hóa.
Nhờ sự đối tượng hóa và giải đối tượng hóa, các hình thức và phương thức hoạt động của con người không chỉ tồn tại ở thân thể hữu cơ mà còn ở thân thể văn hóa, thân thể vô cơ của của mình. Trong kho tàng tư tưởng triết học văn hóa của chủ nghĩa Mác, tư tưởng của Ph. Ăngghen trong tác phẩm “Chống Duhring”, thời gian gần đây được nhiều học giả chú 11 ý như là một chỉ dẫn sâu sắc về văn hóa và về tự do, Ăngghen viết: “Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa là một bước tiến tới tự do” [28,tr.