Chương 1: một số vấn đề chung về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong luật hình sự 1. Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và ý nghĩa của việc ghi nhận tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Để làm rõ khái niệm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, việc trước tiên ta cần phải làm sáng tỏ những khái niệm cơ bản có liên quan như: tài sản trí tuệ, sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu công nghiệp. Yêu cầu này buộc ta phải tìm về với các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ.
Khái niệm tài sản trí tuệ: Trước những năm 90 của thế kỷ XX người ta quan niệm tài sản chỉ bao gồm tiền tệ và vật chất (gọi chung là tài sản hữu hình). Nhưng ngày nay khi nền kinh tế tri thức đã phát triển, khái niệm tài sản đã có sự thay đổi đáng kể nó không chỉ bao gồm có tiền, vật chất (tài sản hữu hình) mà còn bao gồm cả tài sản vô hình trong đó có tài sản trí tuệ. Chính bởi mang trong mình thuộc tính vô hình nên tài sản trí tuệ không thể được xác định bằng các đặc điểm vật chất mà cần được thể hiện ra bên ngoài theo một cách thức nào đó với một hình thức cụ thể để chúng ta có thể nhận biết được. Theo từ điển Tiếng Việt thì: "trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định.
Đó là tài sản riêng của con người mà không một loài vật nào có được" [57]. Do vậy, hiểu một cách đơn giản: Tài sản trí tuệ là sản phẩm của hoạt động trí tuệ, tồn tại dưới các dạng thông tin, tri thức. Theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì tài sản trí tuệ bao gồm: tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa, sáng chế, kiểu dáng công 7 nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh và giống cây trồng… Tài sản trí tuệ có khả năng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần vô cùng to lớn cho chủ sở hữu tài sản cũng như người chiếm hữu, sử dụng nó. Khái niệm sở hữu trí tuệ: Trong khoa học pháp lý hiện đại, có khá nhiều khái niệm khác nhau về sở hữu trí tuệ.
Nhưng theo cách hiểu chung nhất thì sở hữu trí tuệ là sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với các tài sản trí tuệ - kết quả từ việc tư duy, sáng tạo của con người. Đây là khái niệm pháp lý chỉ sự bảo hộ của Nhà nước đối với các thành quả lao động do hoạt động của trí tuệ mang lại. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ: Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) giải thích quyền sở hữu trí tuệ là: "sáng tạo trí óc: sáng chế, tác phẩm văn học và nghệ thuật, biểu tượng, tên, ảnh và các thiết kế dùng trong thương mại. Quyền sở hữu trí tuệ được phân làm hai loại là sở hữu công nghiệp và bản quyền".
Vậy hiểu một cách chung nhất, quyền sở hữu trí tuệ chính là quyền của cá nhân, tổ chức đối với các sản phẩm trí tuệ do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Là độc quyền được công nhận cho phép họ sử dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của sản phẩm trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ có điểm giống với quyền sở hữu tài sản thông thường ở chỗ nó cũng phải chịu những hạn chế nhất định về thời gian, hiệu lực bảo hộ và phạm vi lãnh thổ… Khái niệm sở hữu công nghiệp: Sở hữu công nghiệp là một cụm từ mang tính chất ước lệ, tượng trưng, có nguồn gốc từ châu Âu. Trải qua khá nhiều cuộc tranh luận trong giới các nhà khoa học, giờ đây cụm từ này ngày càng trở nên phổ biến, được các quốc gia dần dần công nhận và sử dụng một cách rộng rãi.
8 Sở hữu công nghiệp có thể được hiểu là sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với các thành quả nghiên cứu triển khai có thể áp dụng công nghiệp. Các "thành quả" này còn gọi là các đối tượng sở hữu công nghiệp và nó bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp: Tại Điều 780 Bộ luật dân sự năm 1995 được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 có ghi nhận: "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định". Khoản 4 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ, cụ thể và chính xác hơn.
Theo đó, quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là: "Quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh". Như vậy, so với Bộ luật dân sự năm 1995 thì Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có những thay đổi đáng kể về đối tượng sở hữu công nghiệp cũng như về chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp. Đồng thời, các định nghĩa pháp lý riêng, tương ứng với từng đối tượng sở hữu công nghiệp cũng có những điểm mới cơ bản, phù hợp hơn với pháp luật thế giới. Một số đối tượng sở hữu công nghiệp trước đây như giải pháp hữu ích, tên gọi xuất xứ hàng hóa đã không còn được đề cập mà thay vào đó là các đối tượng: tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.
9 Các đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận và bảo vệ cụ thể như sau: - Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. - Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này. - Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (gọi chung là thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn. Trong đó "mạch tích hợp bán dẫn" được hiểu là "sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử.
Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử". - Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. + Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. + Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.
+ Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau. 10 + Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. - Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh (khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng). - Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.
- Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. [28] Căn cứ để chủ thể xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí được dựa trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là Cục sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học & Công nghệ) hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Riêng đối với nhãn hiệu nổi tiếng thì quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp nêu trên có các quyền cơ bản như: sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ; ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật.