Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ LỊCH SỬ VỀ TỘI TRỐN THUẾ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các dấu hiệu của tội trốn thuế 1. Khái niệm tội trốn thuế Thuế là một khoản thu bắt buộc dưới hình thái giá trị, mang tính cưỡng chế mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có đủ điều kiện theo luật định. Tính bắt buộc đó thể hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản của người nộp thuế cho nhà nước không có sự thỏa thuận.
Như vậy, bản chất của thuế là sự cưỡng chế một phần thu nhập của người nộp thuế vào NSNN bằng pháp luật, nó phản ánh mối quan hệ phân phối của cải giữa nhà nước với người nộp thuế [36, tr. Dưới góc độ kinh tế thì giữa quyền thu thuế của nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế của người kinh doanh luôn có sự xung đột lợi ích. Lợi ích kinh tế là mục đích chính thúc đẩy người nộp thuế thực hiện hành vi trốn thuế để tối đa hóa thu nhập của mình. Trốn thuế có nguyên nhân từ mâu thuẫn lợi ích, thực tế đã chứng minh trốn thuế và phòng, chống trốn thuế cùng tồn tại như hai mặt của một vấn đề.
Dưới góc độ nghiên cứu khoa học luật hình sự, về lý thuyết hiện nay có nhiều quan niệm về trốn thuế, chẳng hạn có một số quan điểm cho rằng: Trốn thuế là không nộp thuế cho Nhà nước theo quy định của pháp luật [18, tr. Trốn thuế là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để không phải đóng thuế hoặc đóng thuế ít hơn mức thuế phải nộp [5, tr. Trốn thuế là hình thức của người nộp thuế thực hiện hành vi bất hợp pháp để không phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo luật định [1, tr. Còn theo từ điển luật học thì: “Hành vi trốn thuế được hiểu là (hành vi xâm phạm đến chính sách thuế của Nhà nước thông qua việc chủ thể) không hành động hoặc hành động không đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế” [3, tr.
Dưới góc độ của pháp luật thực định, BLHS không có định nghĩa về tội trốn thuế, và ngay trong Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 là một đạo luật chuyên ngành cũng không có định nghĩa về trốn thuế mà chỉ tiếp cận theo phương pháp 7 mô tả liệt kê các hành vi trốn thuế như quy định tại Điều 143 nếu người nộp thuế thực hiện các hành vi đó thì được xem là trốn thuế [22, Điều 143]. Theo các quan điểm trên, mặc dù có cách diễn đạt khác nhau nhưng đều có điểm chung, và có thể tóm tắt như sau: Trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật do người nộp thuế thực hiện một cách có lỗi, hậu quả của hành vi trốn thuế làm thất thu NSNN. Tội trốn thuế cũng như tội phạm nói chung phải thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm: về phương diện khách quan tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, về phương diện chủ quan tội phạm là hành vi do người có năng lực TNHS thực hiện một cách có lỗi, về phương diện pháp lý tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt [14, tr. Pháp luật hình sự hiện hành định nghĩa tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [21, tr.
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa về tội trốn thuế như sau: Trốn thuế là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, gây thất thu ngân sách nhà nước và phải bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự. Các dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế Tội trốn thuế là một loại tội phạm cụ thể nên có nội dung biểu hiện riêng, nhưng trong các tội phạm cụ thể chúng đều có những biểu hiện giống nhau. Những biểu hiện giống nhau đó được coi là những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho các tội phạm nhất định và khi quy định về tội phạm phải sử dụng các dấu hiệu này để mô tả tội phạm; trong khoa học luật hình sự việc mô tả đó được 8 gọi là cấu thành tội phạm. Những dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã trở thành căn cứ để xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hộị là tội phạm, là cơ sở pháp lý để truy cứu TNHS người thực hiện tội phạm; theo pháp luật hình sự Việt Nam để truy cứu TNHS và thừa nhận một người hoặc pháp nhân thương mại là có lỗi thì cần phải xác định hành vi do người đó hoặc pháp nhân thương mại đó thực hiện thỏa mãn cấu thành tội phạm nhất định.
Theo đó, cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu khách quan và chủ quan được quy định trong pháp luật hình sự đặc trưng cho hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm. Cấu thành tội phạm là một hệ thống các dấu hiệu đặc trưng cho khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm [14, tr.123] Theo lý luận về luật hình sự Việt Nam, tội phạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, bao gồm: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm. Các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội trốn thuế, bao gồm: 1. Khách thể của tội trốn thuế Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Bất cứ tội phạm nào cũng đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một hoặc một số khách thể nhất định, việc gây ra thiệt hại cho một hoặc một số khách thể đã quy định trong BLHS được gọi là hậu quả; hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra có mối liên hệ nhân quả; không có khách thể bị xâm hại thì không thể có tội phạm, do vậy khách thể của tội phạm là yếu tố bắt buộc của tội phạm [14, tr. Lý luận luật hình sự Việt Nam chia khách thể của tội phạm thành ba loại: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Khách thể chung của tội phạm là các quan hệ xã hội được quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự, thông qua khách thể chung cho ta thấy được phạm vi của các quan hệ xã hội được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật hình sự và cho ta hiểu được chính sách hình sự của nhà nước. Tội trốn thuế được các nhà làm luật xếp trong nhóm tội xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế quy định tại Chương XVIII của BLHS có tên gọi chung là Các tội 9 xâm phạm trật tự quản lý kinh tế [21, tr.
Dấu hiệu chung của nhóm tội này là xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, đây là nhóm quan hệ xã hội cùng loại có mối liên hệ tác động qua lại hình thành nên trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, do vậy tội trốn thuế có khách thể loại là trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh thuế. Từng tội phạm trong số các tội phạm được nhóm thành một loại có khách thể loại giống nhau bao giờ cũng có khách thể loại trực tiếp, khách thể trực tiếp của tội phạm là những quan hệ xã hội cụ thể được một quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một tội phạm trực tiếp xâm hại.147] Như vậy, khách thể trực tiếp của tội trốn thuế xâm hại chính sách thuế và lợi ích của nhà nước. Đối tượng tác động của tội trốn thuế là tiền thuế mà người phạm tội có nghĩa vụ nộp NSNN theo luật định. Thuế bao gồm các loại thuế phải nộp với tính chất là một nghĩa vụ bắt buộc như: thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế giá trị gia tăng …; 1.
Mặt khách quan của tội trốn thuế Hành vi của con người trong thế giới khách quan luôn có các dấu hiệu ở bên ngoài và các dấu hiệu ẩn chứa bên trong, tội phạm là hành vi (nguy hiểm) của con người nên cũng chứa đựng dấu hiệu bên ngoài và dấu bên trong. Những dấu hiệu bên ngoài của hành vi nguy hiểm cho xã hội cấu thành mặt khách quan bao gồm: hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài gắn liền với hành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, thủ đoạn, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội). Như vậy, mặt khách quan của tội phạm được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm các biểu hiện của tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan [14, tr. Trong mặt khách quan của tội phạm thì hành vi khách quan là dấu hiệu được phản ánh trong tất cả cấu thành tội phạm cơ bản, còn nội dung biểu hiện khác có thể được phản ánh trong cấu thành tội pham cơ bản hoặc cấu thành tội phạm tăng nặng.
Hành vi khách quan của tội trốn thuế là không thực hiện nghĩa vụ thuế đúng theo quy định, để trốn thuế người nộp thuế dùng các thủ đoạn gian 10 dối khác nhau nhằm mục đích không phải đóng thuế hoặc đóng thuế ít hơn mức thuế phải đóng như: không kê khai, kê khai gian dối, sử dụng hóa đơn chứng từ không hợp pháp, làm sai lệch hồ sơ sổ sách kế toán…, hậu quả của hành vi trốn thuế làm thất thu NSNN. Hành vi khách quan của tội trốn thuế được mô tả chi tiết tại khoản 1 Điều 200 BLHS.