Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC GHI NHẬN TỘI PHẢN BỘI TỔ QUỐC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm tội phản bội Tổ quốc trong luật hình sự Việt Nam Trước khi tìm hiểm khái niệm tội phản bội Tổ quốc, ta cần hiểu rõ khái niệm an ninh quốc gia và khái niệm các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Luật An ninh quốc gia năm 2004, mặc dù trong các văn bản pháp luật hiện hành của nước ta có đề cập thuật ngữ "an ninh quốc gia", nhưng dưới góc độ pháp lý, khái niệm an ninh quốc gia chưa bao giờ được chính thức ghi nhận.
Năm 2004, lần đầu tiên trong Luật An ninh quốc gia năm 2004 (khoản 1 Điều 2) nhà làm luật Việt Nam đã chính thức đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm này. Từ việc phân tích định nghĩa pháp lý của khái niệm an ninh quốc gia trong Luật An ninh quốc gia năm 2004 đã nêu của nước ta và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các qui phạm pháp luật hình sự về các tội xâm phạm an ninh quốc gia ở Việt Nam, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm an ninh quốc gia dưới góc độ luật hình sự như sau: An ninh quốc gia là sự ổn định của chế độ Hiến pháp, sự tồn tại và bền vững của hệ thống chính trị và bộ máy chính quyền từ trung ương đến các địa phương trong một nhà nước, cũng như sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhà nước đó trên cơ sở một trật tự pháp luật nhất định, đồng thời là nhóm khách thể loại được đặc biệt bảo vệ bằng pháp luật hình sự tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm. Việc xác định một cách đầy đủ và chính xác nội hàm khái niệm an ninh quốc gia tại điều luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc quy 9 định giới hạn các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm an ninh quốc gia có hiệu quả. Tội phản bội Tổ quốc nằm trong nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia và được quy định từ rất sớm ngay trong Sắc lệnh số 03 ngày 15/3/1976.
Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ hơn khái niệm phản bội Tổ quốc, chúng ta cũng cần phải hiểu khái niệm các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Tại Điều 3 Sắc lệnh số 03 ngày 15 /3/1976, các tội xâm phạm An ninh quốc gia được hiểu là các tội chống lại Tổ quốc, phá hoại độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Trên cơ sở khái niệm an ninh quốc gia ở trên, có thể đưa ra khái niệm các tội xâm phạm an ninh quốc gia như sau: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Như vậy, các tội xâm phạm an ninh quốc gia xâm phạm đến các quan hệ xã hội đặc biệt, tội phản bội Tổ quốc là một trong những tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm đến các quan hệ xã hội đó.
Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, tội phản bội Tổ quốc là một trong những tội được quy định sớm. Trong Sắc lệnh số 133 ngày 20/01/1953 về trừng trị những tội xâm hại đến an toàn Nhà nước, đối nội và đối ngoại, tội phản bội Tổ quốc được quy định tại Điều 3: "Kẻ nào cấu kết với địch (đế quốc xâm lược và bọn bù nhìn phản động) cầm đầu trong tổ chức quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phản bội Tổ quốc sẽ bị xử tử hình hoặc tù chung thân". 10 Trong Sắc luật số 03/76 ngày 15/03/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, mặc dù không có qui phạm định nghĩa về tội phản bội Tổ quốc, nhưng tội phạm này được quy định tại Điều 3: "Phạm tội phản bội Tổ quốc hoặc âm mưu lật đổ chính quyền thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình". Tuy nhiên, trước khi đi tìm hiểu định nghĩa pháp lý của khái niệm "phản bội Tổ quốc", chúng ta cần làm sáng tỏ khái niệm Tổ quốc, từ đó mới hiểu và nhận thức chính xác về khái niệm phản bội Tổ quốc.
Có rất nhiều sách báo đề cập đến thuật ngữ "Tổ quốc", nhưng để hiểu đúng và đầy đủ nghĩa của thuật ngữ đó với tính chất là một phạm trù xã hội - lịch sử rất rộng, chúng ta phải xem xét ngữ nghĩa của nó. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: "Tổ quốc" được hiểu là "đất nước, gắn liền với bao thế hệ, ông cha, tổ tiên của mình" [47]. Khái niệm "Tổ quốc" còn được đề cập trong Giáo trình Luật hình sự - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002, được hiểu là một phạm trù xã hội, lịch sử rất rộng (cả về không gian và thời gian) vì nó bao gồm giang sơn, đất nước trên một lãnh thổ nhất định đã được nhiều thế hệ xây dựng, bảo vệ và để lại từ bao đời trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, truyền thống của dân tộc bằng sự gắn bó tình cảm sâu nặng của nhân dân [4]. Chẳng hạn, một người mặc dù có thể là do sự đối lập trong quan điểm chính trị nên về mặt tư tưởng không yêu thích chế độ chính trị của một Nhà nước nào đó, nhưng người đó vẫn rất yêu quí giang sơn đất nước của mình, cũng như quê hương bà con làng xóm họ hàng và những người thân yêu ruột thịt của mình.
Trong Giáo trình Luật hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2006, Tổ quốc được hiểu là "Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa", được xác định dựa trên quan điểm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Khái niệm Tổ quốc này là một khái niệm mang tính giai cấp [41]. 11 Theo quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam, thì Tổ quốc là đất nước nơi con người sinh ra, lớn lên. Nhưng trong nội hàm của khái niệm Tổ quốc, không chỉ giới hạn ở lãnh thổ với tính chất là vị trí địa lý, Tổ quốc còn là một phạm trù chính trị.
Lênin, "Tổ quốc trước hết là môi trường chính trị, văn hóa xã hội con người". Tổ quốc ở đó có những người mẹ sớm hôm tần tảo và ở đó là nơi sinh ra tâm hồn của mỗi con người, cho nên Tổ quốc là giá trị thiêng liêng không thể so sánh được. Vì lẽ đó, chỉ có những người vô lương tâm mới có thể thể phản bội Tổ quốc, phản bội lại giang sơn, đất nước, lãnh thổ. Người yêu Tổ quốc sẽ không do dự hiến thân cả đời mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, phản bội Tổ quốc tức là phản bội lại môi trường chính trị, văn hóa, xã hội của mình, phản bội lại nơi mình được sinh ra và lớn lên, phản bội lại những giá trị văn hóa, tinh thần mà mình được nuôi dưỡng trưởng thành.
Trong giai đoạn mở cửa và hội nhập hiện nay của đất nước, việc nhận thức rõ ràng khái niệm Tổ quốc một cách đúng đắn và chính xác là một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng. Tuy nhiên, theo quan điểm nhà làm luật Việt Nam, thì khái niệm "Tổ quốc" trong pháp luật hình sự thực định, được hiểu là Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do vậy, từ khái niệm "Tổ quốc", có thể làm rõ khái niệm "phản bội Tổ quốc". Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, quyển 3, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2003, phản bội Tổ quốc được hiểu: "Công dân một nước câu kết với nước ngoài, nhằm gây nguy hại cho độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mình" [42].
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1998, phản bội Tổ quốc được hiểu: "Phản lại, chống đối lại những người hoặc những cái đáng ra phải hết sức bảo vệ, tôn thờ" [48]. Như vậy, mặc dù Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm "phản bội Tổ quốc", nhưng khái niệm này 12 có thể được hiểu là bất kỳ hành vi nào của công dân Việt Nam cấu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho các quan hệ xã hội: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng và chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tội phản bội Tổ quốc phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [3, tr. Trên cơ sở phân tích các khái niệm trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm tội phản bội Tổ quốc như sau: Tội phản bội Tổ quốc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự của công dân Việt Nam có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cấu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho các quan hệ xã hội: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng và chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ý nghĩa của việc ghi nhận tội phản bội Tổ quốc trong luật hình sự Việt Nam Điều 1 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, chủ quyền và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh đối nội, an ninh đối ngoại và sự vững mạnh của chính quyền nhân dân" [24].