Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM TỰ DO, DÂN CHỦ, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ; KHÁI NIỆM TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN 1. Khái niệm tự do, dân chủ và khái niệm quyền tự do, dân chủ Khi bàn về ý nghĩa và vai trò của tự do đối với sự tồn tại của con người, có tác giả đã viết: Tự do vừa là bản chất tự nhiên, vừa là khát vọng thường trực của mỗi người. Ai cũng yêu tự do, ai cũng khao khát tự do.
Tự do mạnh mẽ và vĩ đại ở chỗ tìm kiếm nó trở thành bản năng sống còn của con người càng thiếu tự do, con người càng khao khát tự do, giống như sự thèm muốn bị thôi thúc bởi cơn khát khi không có nước. Chính vì thế, không một con người nào yên phận sống trong sự nô dịch của người khác và không một dân tộc nào cam chịu sống trong sự kìm kẹp của dân tộc khác. Các cuộc kháng chiến chính là để giải phóng con người ra khỏi sự nô dịch và kiềm tỏa. Sự mãnh liệt của khát vọng tìm kiếm tự do là một trong những tiêu chuẩn để đo đạc sự lành mạnh của một dân tộc" [2, tr.
Khái niệm "tự do" xuất hiện trong hầu khắp ngôn ngữ các dân tộc trên thế giới. Trong tiếng Hy Lạp, tự do được viết là ελευθερία, tiếng Latinh viết là libertati; tiếng Anh: liberty và tiếng Hoa viết là自由. Theo Từ điển tiếng Việt thì từ "tự do" có thể được sử dụng theo hai cách: tự do với ý nghĩa là một danh từ và tự do với ý nghĩa là một tính từ. Ở dạng từ loại danh từ, tự do được hiểu theo ba nghĩa: 1.
Là trạng thái một dân tộc, một xã hội và các thành viên 16 không bị cấm đoán, hạn chế vô lí trong các hoạt động xã hội - chính trị; 2. Là trạng thái không bị giam cầm hoặc không bị làm nô lệ; 3. Là trạng thái không bị cấm đoán, hạn chế vô lý trong việc làm nào đó. Ở dạng từ loại tính từ, tự do được hiểu theo bốn nghĩa khác nhau.
Cụ thể, tự do có nghĩa là: 1. Có các quyền tự do về xã hội - chính trị; 2. Không bị lực lượng ngoại xâm chiếm đóng; 3. Không bị cấm đoán, hạn chế vô lí trong hoạt động cụ thể nào đó; 4.
Không có những sự ràng buộc, hạn chế về những mặt nào đó, đối lập với những trường hợp thông thường khác [24, tr. Từ cách giải thích của Từ điển tiếng Việt như trên, có thể thấy nhìn chung từ "tự do" thường được hiểu là một trạng thái tồn tại của con người trong đó các cá nhân và cộng đồng mà các cá nhân đó hợp thành không bị ước thúc, cấm đoán, hay bị buộc phải làm những gì phi lý, trái với mong muốn và chuẩn mực đạo đức xã hội của họ. "Tự do là khoảng không gian (tưởng tượng) mà ở đó con người có được sự thống nhất giữa ý nghĩ và hành vi, con người yên tâm về sự tồn tại của mình, về hành động của mình mà không chịu sự áp đặt, kiềm tỏa của bất kỳ yếu tố nào" [2, tr. Nói tóm lại, tự do là trạng thái đối lập với tình trạng con người (cá nhân hay dân tộc) bị áp bức, nô dịch, bị đè nén cả về mặt tư tưởng lẫn các hành động trong thực tế.
Như vậy, có hai loại tự do là tự do tư tưởng và tư do hành động. Con người được tự do hoàn toàn về mặt tư tưởng nhưng bị hạn chế tự do hành động. Montesquieu đã viết: "Tự do chính trị tuyệt đối không phải là muốn làm gì thì làm. Trong một nước có luật pháp, tự do chỉ có thể là được làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điều không nên làm" [22, tr.
Cùng quan điểm với Montesquieu, Heghel cho rằng: "Tự do là cái tất yếu được nhận thức". Nói cách khác, tự do là quyền hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan. Trong xã hội có giai cấp, quy luật khách quan phản ánh trong các quy định pháp luật tiến bộ. Tự do có nghĩa là hành động đúng trong khuôn khổ một nền pháp luật đúng đắn.
17 Gắn liền với tự do là khái niệm dân chủ. Dân chủ có thể được xem như là nền tảng của tự do và là môi trường trong đó con người được sống tự do. Trong Từ điển tiếng Việt, dân chủ được giải thích là "chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ" [24, tr. Như vậy, theo ngôn ngữ thông thường, người ta xem dân chủ là một chế độ xã hội mà trong đó người dân là chủ thể của quyền lực nhà nước.
Theo cách hiểu này, Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã quy định: 1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức [30]. Ở góc độ khác, tiếp cận vấn đề theo cách rộng hơn, tác giả Nguyễn Minh Tuấn trong sách Dân chủ ở xã từ góc nhìn pháp lý cho rằng có thể giải thích khái niệm dân chủ theo nhiều cách khác nhau: Dân chủ có thể là một dòng triết học - chính trị (phản ánh qua các giá trị phổ quát: tự do cá nhân, bình đẳng về điều kiện, thống nhất về tính đa dạng); dân chủ là một chỉnh thể hiện thực thâu tóm mọi khía cạnh vật chất và tinh thần của dân chủ (nền dân chủ); dân chủ là một khái niệm chính trị - pháp lý (hình thức nhà nước); dân chủ là một hiện thực kinh tế (thị trường tự do); dân chủ là một hiện thực xã hội (các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức xã hội, phong trào lao động và xã hội quốc tế); dân chủ là trạng thái của hệ thống quan hệ quốc tế (quyền tự quyết dân tộc, chủ quyền quốc gia) [50, tr.
Theo tác giả Trịnh Tiến Việt trong sách Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam thì: 18 Ngày nay, dân chủ không chỉ là mục tiêu phấn đấu của con người, là một vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng quan tâm, mà còn coi đó là một trong những giá trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng [57, tr. Tự do và dân chủ đều là những nhu cầu vô cùng thiết yếu đối với con người. Trong các xã hội hiện đại, trách nhiệm của Nhà nước là phải thể chế hóa các vấn đề tự do và dân chủ trong các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Từ cách tiếp cận quyền con người, có thể khẳng định: quyền tự do và dân chủ là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống các quyền cơ bản của con người được ghi nhận không chỉ trong pháp luật quốc gia mà còn trong cả các văn kiện quốc tế quan trọng như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966… Ở Việt Nam hiện nay, các quyền tự do dân chủ được ghi nhận trong Chương II Hiến pháp năm 2013, Bộ luật dân sự, BLHS và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Quyền tự do, dân chủ là những quyền thuộc nhóm "quyền con người". Do vậy, đây là những quyền mang tính chất tự nhiên mà con người, với tư cách là NGƯỜI sinh ra đã có. Pháp luật của Nhà nước chỉ ghi nhận các quyền này vào trong quy định của các văn bản pháp luật nêu trên, xác định nội dung, điều kiện và cơ chế thực thi, bảo vệ nó. Trong mối quan hệ với quyền con người thì các quyền tự do, dân chủ có phạm vi hẹp hơn.
Các quyền tự do, dân chủ chỉ là một bộ hận cấu thành nên tổng thể quyền con người nói chung. Đây là các quyền phản ánh trạng thái tự do và trạng thái dân chủ của con người và xã hội. Từ sự phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về tự do, dân chủ và quyền tự do, dân chủ như sau: Tự do và dân chủ là những giá trị xã hội của con người, là trạng thái mà con người tồn tại mà không có áp bức, bất công, được làm những gì mà 19 mình muốn trên cơ sở của pháp luật và trạng thái người dân bình thường được đưa lên vị trí làm chủ xã hội, trở thành chủ thể của quyền lực xã hội cũng như quyền lực nhà nước. Quyền tự do, dân chủ là quyền phản ánh những giá trị về tự do và dân chủ, được quy định trong các văn bản pháp luật của Nhà nước.
Trong đó, quan trọng nhất là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tín ngưỡng, tự do tôn giáo, tự do hội họp. Khái niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Phần các tội phạm của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra khái niệm về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân như sau: Theo Điều 258 Bộ luật hình sự, tội phạm này được hiểu là hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân [22, tr. Quan điểm này mới chỉ nêu khái niệm, khách thể của tội phạm và hành vi phạm tội, nhưng thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm, dấu hiệu đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) và có năng lực TNHS.