Tổng quan nghiên cứu

Tội phạm cướp tài sản là một trong những hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất nguy hiểm cao nhất, đe dọa trực tiếp đến quyền sở hữu và tính mạng, sức khỏe của người dân. Theo Báo cáo của cơ quan chức năng tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, tình hình tội phạm cướp tài sản trên phạm vi toàn quốc có chiều hướng gia tăng 5,1%, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện và áp dụng nghiêm minh các quy định của pháp luật hình sự. Tại thành phố Đà Nẵng – đô thị loại I đóng vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa và du lịch trọng điểm của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng cùng lượng dân cư cơ học di chuyển lớn đã kéo theo nhiều diễn biến phức tạp về an ninh trật tự.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cướp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 5 năm từ năm 2015 đến năm 2019. Mục tiêu trọng tâm là hệ thống hóa các dấu hiệu pháp lý theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; phân tích thực trạng xét xử sơ thẩm với tổng số 2.395 vụ án và 4.485 bị cáo hình sự; chỉ ra những khó khăn trong công tác định tội danh, quyết định hình phạt; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh, hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 15% đến 20% các vụ án xâm phạm sở hữu nghiêm trọng trên địa bàn thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, kết hợp với các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Luận văn vận dụng 3 lý thuyết nền tảng trong khoa học luật hình sự: lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan); học thuyết về khách thể kép của tội cướp tài sản (bảo vệ đồng thời quan hệ nhân thân và quyền sở hữu tài sản); và nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, bảo đảm tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa.

Khung lý thuyết của đề tài làm rõ 5 khái niệm nòng cốt:

  1. Khái niệm tội phạm theo Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và trái pháp luật hình sự.
  2. Khái niệm tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, phân tích cấu thành cơ bản gồm hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
  3. Khái niệm tài sản theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
  4. Tình trạng không thể chống cự được của người bị tấn công dưới tác động của vũ lực hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác.
  5. Sự chuyển hóa tội phạm từ tội cướp giật tài sản (Điều 171), trộm cắp tài sản (Điều 173) sang tội cướp tài sản khi xuất hiện hành vi dùng vũ lực nhằm giữ tài sản chiếm đoạt. Cấu trúc Điều 168 gồm 6 khoản quy định rõ ràng mức hình phạt từ 3 năm tù đến tù chung thân, đồng thời loại bỏ hình phạt tử hình so với quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng và Báo cáo số 590/BC-VKS-VP của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) với quy mô 2.395 vụ án hình sự sơ thẩm và 4.485 bị cáo được thụ lý, xét xử trong 5 năm, kết hợp khảo sát chi tiết 788 vụ án mới khởi tố với 1.207 bị can tại địa phương trong giai đoạn 2016-2017. Lý do chọn mẫu toàn bộ nhằm bảo đảm tính bao quát tuyệt đối, tránh sai số ngẫu nhiên khi phân tích các vụ án cướp tài sản vốn có mức độ nguy hiểm xã hội đặc biệt nghiêm trọng.

Nghiên cứu kết hợp các phương pháp phân tích cụ thể:

  • Phương pháp thống kê tội phạm học: Lượng hóa số lượng vụ án, bị can, bị cáo theo từng năm và phân loại theo cơ cấu nhân thân, độ tuổi, tiền án tiền sự.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999 và 2015, cũng như phân định ranh giới giữa tội cướp tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và logic quy nạp: Đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa tốc độ đô thị hóa, lỗ hổng trong quản lý xã hội với sự gia tăng của tội phạm cướp tài sản, từ đó rút ra các bài học thực tiễn xác đáng cho giai đoạn 2015-2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu thực tế tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015-2019 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô án hình sự sơ thẩm có biến động phức tạp và tăng mạnh theo thời gian. Trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân hai cấp thành phố xét xử sơ thẩm 479 vụ với 897 bị cáo. Số lượng vụ án tăng từ 361 vụ và 669 bị cáo năm 2015 lên đỉnh điểm 579 vụ và 1.128 bị cáo vào năm 2017 (tăng 60,4% về số vụ và 68,6% về số bị cáo). So sánh giữa năm đầu kỳ 2015 và cuối kỳ 2019, số án thụ lý tăng ròng 92 vụ và 192 bị cáo, tương đương mức tăng trung bình gần 20 vụ và 40 bị cáo mỗi năm.

Thứ hai, cơ cấu nhân thân người phạm tội phản ánh tính chất di biến động dân cư rõ rệt. Dữ liệu từ Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng ghi nhận trong số 1.207 bị can bị khởi tố mới, có 378 bị can có hộ khẩu ngoại tỉnh (chiếm tỷ lệ 31,3%, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước). Tỷ lệ đối tượng có tiền án, tiền sự chiếm 13,2% với 160 bị can, cho thấy tính chất tái phạm nguy hiểm và hoạt động chuyên nghiệp của các ổ nhóm cướp tài sản.

Thứ ba, xu hướng trẻ hóa tội phạm cướp tài sản và xâm phạm sở hữu diễn biến đáng lo ngại. Nhóm bị can là người chưa thành niên có 89 đối tượng, chiếm tỷ lệ 7,3% và tăng 1,6% so với kỳ trước. Các đối tượng này thường liên kết thành các nhóm lưu động từ 2 đến 4 người, lợi dụng đêm tối trên các tuyến đường vắng hoặc khu vực ven biển để sử dụng hung khí tấn công nạn nhân.

Thứ tư, quá trình áp dụng pháp luật xuất hiện nhiều khó khăn trong việc định khung hình phạt theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Các cơ quan tiến hành tố tụng gặp vướng mắc lớn khi xác định các tình tiết định tính mới như gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Điểm g Khoản 2 Điều 168) hoặc dấu hiệu phạm tội đối với người già yếu, người không có khả năng tự vệ do thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể từ Tòa án nhân dân tối cao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình hình tội phạm cướp tài sản gia tăng tại Đà Nẵng bắt nguồn từ sự bùng nổ của các cơ sở dịch vụ lưu trú, nhà nghỉ, dịch vụ cầm đồ phục vụ phát triển du lịch nhưng công tác quản lý cư trú chưa theo kịp. Bên cạnh đó, việc chuyển giao văn bản pháp luật khi Bộ luật Hình sự năm 2015 lùi hiệu lực thi hành sang ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã tạo ra khoảng trống tâm lý nhất định cho các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương trong việc áp dụng thống nhất các tình tiết tăng nặng định khung.

Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây tại Hà Nội của Đỗ Kim Tuyến năm 2001 và tại Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Đức Thảo năm 2016, mô hình tội phạm cướp tài sản ở Đà Nẵng có sự tương đồng về thủ đoạn manh động và tính chất lưu động trên các tuyến giao thông trọng điểm. Tuy nhiên, Đà Nẵng mang nét đặc thù riêng với tỷ lệ tội phạm ngoại tỉnh chiếm tới 31,3%, cao hơn đáng kể so với các địa bàn thuần nông nghiệp như Hải Dương hay Quảng Ngãi.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường thể hiện xu hướng biến thiên số lượng vụ án hình sự giai đoạn 2015-2019 và bảng ma trận thống kê phân loại nhân thân đối tượng theo độ tuổi, tiền án, hộ khẩu thường trú. Việc trình bày dạng bảng và biểu đồ giúp các thẩm phán, kiểm sát viên nhanh chóng nắm bắt các điểm nóng tội phạm, từ đó nâng cao độ chính xác khi đưa ra phán quyết.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và kiềm chế tội phạm cướp tài sản, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động cụ thể:

  1. Hoàn thiện văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự: Kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phối hợp cùng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết các tình tiết định khung mới tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2021-2022. Trọng tâm là định lượng rõ tiêu chí xác định người già yếu (người từ đủ 70 tuổi trở lên hoặc từ 60 tuổi trở lên có bệnh lý), người không có khả năng tự vệ và hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nhằm bảo đảm tính chính xác 100% khi định tội danh và quyết định hình phạt.

  2. Tăng cường năng lực điều tra, truy tố và xét xử liên ngành: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân hai cấp thành phố cần thiết lập quy chế phối hợp định kỳ hàng quý từ năm 2021. Mục tiêu nâng cao tỷ lệ khám phá các vụ án cướp tài sản có tổ chức lên trên 95%, rút ngắn thời hạn điều tra từ 15% đến 20% đối với các vụ án cướp có vũ khí nguy hiểm hoặc có yếu tố chuyển hóa tội phạm.

  3. Triển khai các biện pháp phòng ngừa kỹ thuật và tuần tra cơ sở: Công an thành phố Đà Nẵng chủ trì lắp đặt hệ thống camera giám sát an ninh phủ kín 100% các tuyến đường ven biển, đường quốc lộ và khu vực công cộng vắng vẻ trong lộ trình 2021-2025. Đồng thời, lực lượng tuần tra hỗn hợp tăng cường tuần tra vũ trang ban đêm nhằm triệt xóa 100% các tụ điểm có nguy cơ phát sinh cướp tài sản.

  4. Nâng cao hiệu lực quản lý hành chính về trật tự xã hội: Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng chỉ đạo lực lượng công an cơ sở siết chặt kiểm tra 100% các cơ sở kinh doanh có điều kiện như dịch vụ cầm đồ, quán bar, nhà trọ bình dân. Kết hợp với các đoàn thể triển khai chương trình đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh thiếu niên ngoại tỉnh và người sau cai nghiện, đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội xuống dưới mức 5% trong vòng 3 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  • Thẩm phán và Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân các cấp: Cung cấp cơ sở lý luận vững chắc và bảng đối chiếu tiêu chí pháp lý để phân biệt chuẩn xác tội cướp tài sản với tội cướp giật tài sản (Điều 171) và công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172). Tài liệu hỗ trợ trực tiếp việc ra bản án đúng người, đúng tội, giải quyết dứt điểm các vụ việc có sự chuyển hóa tội danh phức tạp.

  • Kiểm sát viên và Điều tra viên Công an nhân dân: Giúp nắm vững kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ về yếu tố đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc và tình trạng không thể chống cự của nạn nhân. Hỗ trợ đắc lực trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra hơn 700 vụ án hình sự phát sinh mỗi năm tại địa bàn đô thị.

  • Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Sinh viên ngành Luật Hình sự: Đóng vai trò là nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị, cung cấp chuỗi số liệu thực chứng 5 năm từ 2015 đến 2019 cùng bức tranh toàn cảnh về lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến Bộ luật Hình sự năm 2015.

  • Cơ quan hoạch định chính sách và Lãnh đạo Công an địa phương: Cung cấp mô hình dự báo tội phạm học và phân tích cơ cấu nhân thân tội phạm (đặc biệt là nhóm đối tượng ngoại tỉnh chiếm 31,3%), giúp chính quyền thành phố Đà Nẵng và các đô thị lớn xây dựng kế hoạch phòng ngừa xã hội hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt pháp lý căn bản giữa tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản là gì?

Tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự) sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực ngay tức khắc để triệt tiêu ý chí kháng cự của nạn nhân trước khi chiếm đoạt. Ngược lại, tội cướp giật tài sản (Điều 171 Bộ luật Hình sự) chỉ lợi dụng sơ hở, nhanh chóng giật lấy tài sản rồi tẩu thoát mà không dùng vũ lực làm tê liệt khả năng phòng vệ của bị hại.

Người có hành vi chuẩn bị phạm tội cướp tài sản bị xử lý hình sự như thế nào?

Theo Khoản 5 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, người chuẩn bị phạm tội cướp tài sản (như chuẩn bị hung khí, lên kế hoạch phân công đồng phạm) phải chịu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Đây là 1 trong 20 tội danh mà hành vi chuẩn bị phạm tội phải bị truy cứu theo luật định.

Bộ luật Hình sự năm 2015 có còn áp dụng hình phạt tử hình đối với tội cướp tài sản không?

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã chính thức bãi bỏ hình phạt tử hình đối với tội cướp tài sản nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước. Khung hình phạt cao nhất tại Khoản 4 Điều 168 hiện nay là tù chung thân, đưa cướp tài sản trở thành 1 trong 7 tội danh được loại bỏ án tử hình trong lần sửa đổi này.

Tình tiết gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự được áp dụng định khung thế nào tại Đà Nẵng?

Quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự áp dụng khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng áp dụng tình tiết này đối với các vụ cướp tài sản có tính chất côn đồ, gây hoang mang dư luận tại các điểm du lịch hoặc do các nhóm thanh thiếu niên chiếm 7,3% tổng số bị can gây ra.

Trường hợp nào trộm cắp tài sản sẽ bị chuyển hóa thành tội cướp tài sản?

Khi kẻ thực hiện hành vi trộm cắp lén lút bị người khác phát hiện, ngăn chặn hoặc giằng lại tài sản, nếu đối tượng dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để giữ bằng được tài sản thì hành vi sẽ lập tức chuyển hóa thành tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa sâu sắc lịch sử lập pháp và làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý mới của tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, đặc biệt là việc loại bỏ hình phạt tử hình và bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung cụ thể.
  • Công trình đã lượng hóa toàn diện thực trạng xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015-2019 với quy mô 2.395 vụ án và 4.485 bị cáo hình sự, đạt mức trung bình 479 vụ mỗi năm.
  • Phân tích chi tiết đặc điểm tội phạm học tại đô thị lớn với tỷ lệ người ngoại tỉnh phạm tội chiếm 31,3% và đối tượng chưa thành niên chiếm 7,3%, chỉ rõ sự cần thiết phải kiểm soát chặt chẽ an ninh cư trú.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, gắn liền trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Công an, Viện kiểm sát và chính quyền thành phố Đà Nẵng trong lộ trình cải cách tư pháp đến năm 2025.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn mực, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho công tác đào tạo luật học và thực tiễn xét xử tư pháp trên toàn quốc.

Các cơ quan tiến hành tố tụng, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể tiếp cận, vận dụng những kết luận và giải pháp của luận văn nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu trong giai đoạn phát triển mới.