CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản 1. Khái niệm tội phạm "Tội phạm" với phương diện là một thuật ngữ pháp lý, được quy định tại Điều 8 BLHS 2015 như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [36]. Xét về bản chất nội dung chính trị - xã hội và nội dung pháp lý, tội phạm là hiện tượng xã hội được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải chịu hình phạt.
Nếu nghiên cứu về mặt cấu trúc, tội phạm đều hợp thành bởi bốn yếu tố là chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và khách thể. Để hiểu rõ về khái niệm của tội phạm đã nêu ở trên cần phân tích những đặc điểm (dấu hiệu của tội phạm) như sau: Tính nguy hiểm cho xã hội: Là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm. Nguy hiểm cho xã hội, về khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không những là căn cứ để phân biệt với hành vi vi phạm khác mà còn là cơ sở để đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội và qua đó giúp cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự được chính xác.
8 Về tính có lỗi: Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Người bị coi là có lỗi khi người đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi ấy là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Tính trái pháp luật: Tính trái pháp luật là dấu hiệu về mặt hình thức pháp lý, phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội, là dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội của tội phạm. Việc quy định tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm không những là cơ sở đảm bảo đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm cho quyền dân chủ của công dân khỏi bị xâm phạm bởi hành vi xử lý tùy tiện mà còn là động lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung, sửa đổi luật theo sát sự thay đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội.
Tính phải chịu hình phạt: Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm như hai dấu hiệu trên. Do vậy, Điều 8 BLHS 2015 không đề cập dấu hiệu này trong định nghĩa tội phạm. Tính phải chịu hình phạt đi liền với tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. Tính chất này không những chỉ thể hiện ở chỉ hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt mà còn thể hiện ở chỗ tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự là cơ sở để cụ thể hóa tính chịu hình phạt trong từng trường hợp phạm tội cụ thể.
Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt; không có tội phạm thì cũng không có hình phạt. Khái niệm về tội phạm được coi là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Nội dung của khái niệm tội phạm là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lí khác. Khái niệm tội Cướp tài sản Cướp là gì? Theo từ điển tiếng việt thì Cướp hay cướp tài sản trong luật hình sự là một tội danh chỉ người nào sử dụng vũ lực, hoặc đe dọa sử dụng ngay tức khắc vũ lực 9 đối với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.
Thủ phạm gây ra vụ cướp gọi là tên cướp. Bạo lực là dấu hiệu phổ biến nhất của bọn cướp, trong trường hợp xảy ra giết người thì tội danh biến thành cướp của giết người. Cướp thường xảy ra ở nơi có nhiều tài sản (dễ bị tấn công) như vùng đô thị thành phố. Nhiều nhất ở những nơi tối tăm, nhiều người ở lễ hội, công viên, siêu thị, bến xe buýt.
Cướp là hành vi dùng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Cướp là một trong những hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích tư lợi cho mình hoặc là đem tặng, cho, biếu, cấp phát. cho những người mà mình quan tâm. Cướp của cải (tài sản) đã xuất hiện ngay từ khi có chế độ tư hữu và xã hội phân chia thành những người giàu và người nghèo.
Cướp là một loại tội phạm chiếm đoạt tài sản nghiêm trọng nhất trong các tội chiếm đoạt tài sản. Nó trực tiếp đe doạ đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần và tài sản của con người. Do vậy, trong Bộ luật hình sự của Việt Nam cũng như của nhiều Nhà nước khác trên thế giới có một hoặc một số điều luật quy định về tội cướp (cướp tài sản Nhà nước - tài sản xã hội chủ nghĩa và cướp tài sản của công dân). Phương thức cướp tài sản thường là sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) để đè bẹp sự chống cự hoặc làm tê liệt sự phản kháng, chống đối lại của người có tài sản.
Đe dọa dùng vũ lực là hành vi của người cướp tài sản đã sử dụng lời nói hoặc cử chỉ hay hành động đe dọa xâm phạm ngay đến tính mạng, sức khỏe và làm tê liệt ngay ý chí chống cự - phản kháng của người có tài sản. Hành vi đe doạ dùng vũ lực ở đây có đặc điểm là ngay tức khắc. Đặc điểm này dùng để chỉ sự khẩn trương, nhanh chóng có thể xảy ra chớp nhoáng ngay về mặt thời gian, đồng thời đặc điểm này còn dùng để chỉ về sự mãnh liệt của sự đe doạ ở mức độ có thể xảy ra ngay lập tức làm cho người bị đe doa tê liệt ý chí chống cự, phản kháng của mình. Các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là những hành vi mà khi sử dụng đến thì nó có khả năng cản trở 10 được sự phản kháng hay chống đối của người có tài sản, chẳng hạn: hành vi đầu độc bằng thuốc mê hoặc là giam, giữ người để chiếm đoạt tài sản của họ.
Tài sản là gì? Với tư cách là khách thể quyền sở hữu, đã được Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 xác định như sau: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai [38] Vật Vật là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí). Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó (vật chất) của con người.
Tuy nhiên, không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật. Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật. Ví dụ: Không khí trong tự nhiên, nước suối, nước sông, nước biển… không được coi là vật. Nhưng nếu đóng vào bình nước, hay được làm nóng, làm lạnh… lại được coi là vật.
Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng được nhu cầu của con ngưòi, vật có thực với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đăc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Do sự phát triển của khoa học, công nghệ, khái niệm vật trong khoa học pháp lý cũng được mở rộng. Ví dụ: Phần mềm trong máy tính hoặc chất thải nếu sử dụng làm nguyên liệu sẽ được coi là vật, nhưng bình thường không được coi là vật. Vật là tài sản không chỉ là những vật tồn tại hiện hữu mà còn bao gồm cả những vật (hay tài sản) chắc chắn sẽ có.
Điều 175 BLDS đã xác định loại tài sản này là: hoa lợi và lợi tức. Đây chính là sự gia tăng của tài sản trong những điều kiện 11 nhất định. Tương tự, tiền và những loại giấy tờ có giá cũng được xác định là những loại tài sản có tính chất đặc biệt. Phân biệt tài sản và hàng hóa Cần phân biệt tài sản với khái niệm hàng hóa trong khoa học chính trị kinh tế học (là sản phẩm do con người tạo ra có giá trị và giá trị sử dụng).
Giá trị của hàng hóa được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng hóa đó. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên là vật (tài sàn) nhưng không phải hàng hóa vì không gắn với lao động xã hội. Vì vậy, khái niệm tài sản có phạm vi ngoại diện rộng hơn khái niệm hàng hóa. Quyền tài sản Ngoài vật, tiền - tài sản còn được xác định là quyền tài sản theo quy định tại Điều 115 BLDS: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.