Luận văn: Tổ chức dạy học kỹ năng giao tiếp tích cực tại CĐ Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ về tổ chức hoạt động dạy học môn kỹ năng giao tiếp tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ theo phương pháp dạy học tích cực.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

203
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tổ chức dạy học kỹ năng giao tiếp theo phương pháp tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là cách thức tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp này yêu cầu học sinh tham gia tích cực vào quá trình tiếp nhận kiến thức thông qua thảo luận, thực hành và giải quyết vấn đề. Tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ, môn Kỹ năng giao tiếp được xây dựng với mục tiêu giúp sinh viên nắm vững bản chất quá trình giao tiếp. Nội dung môn học bao gồm truyền thông, nhận thức và ảnh hưởng tác động qua lại trong giao tiếp. Sinh viên cần nắm được những nét riêng, phong tục tập quán dân tộc cùng nguyên tắc thông lệ quốc tế. Quá trình tổ chức dạy học cần sắp xếp giờ học phù hợp với mục tiêu, nội dung từng bài học. Điều kiện môi trường lớp học phải tạo thuận lợi cho hoạt động thực hành giao tiếp. Phương pháp dạy học tích cực giúp hình thành năng lực hoạt động trí tuệ và kỹ năng sống thiết yếu cho sinh viên.

1.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Methodos, nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt mục đích. Theo Iu. Babanxki, phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh giữa giáo viên và học sinh hướng vào giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng. Phương pháp dạy học tích cực nhấn mạnh vai trò trung tâm của người học trong quá trình tiếp thu kiến thức. Người học không còn là đối tượng tiếp nhận thụ động mà trở thành chủ thể tích cực xây dựng tri thức. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức và hỗ trợ học sinh khám phá.

1.2. Mục tiêu môn kỹ năng giao tiếp tại trường cao đẳng

II. Phân tích thực trạng dạy học kỹ năng giao tiếp tại Cần Thơ

Thực trạng tổ chức dạy học môn Kỹ năng giao tiếp tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Phương pháp truyền thống chủ yếu sử dụng hình thức thầy giảng, trò nghe dẫn đến tính tích cực của sinh viên chưa cao. Hoạt động thực hành giao tiếp trong lớp học còn hạn chế, sinh viên thiếu cơ hội rèn luyện kỹ năng thực tế. Nội dung bài học đôi khi chưa gắn liền với tình huống giao tiếp thực tiễn trong công việc văn phòng. Thời gian thực hành trên lớp không đủ để sinh viên hình thành kỹ xảo giao tiếp thành thục. Việc đánh giá kết quả học tập chủ yếu dựa vào lý thuyết, chưa chú trọng đánh giá năng lực thực hành. Mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học chưa được thiết kế đồng bộ. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

2.1. Hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp dạy học truyền thống thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều từ giáo viên đến học sinh. Sinh viên đóng vai trò thụ động, thiếu cơ hội tương tác và thực hành kỹ năng giao tiếp thực tế. Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu là cả lớp nghe giảng, thiếu đa dạng về quy mô và thành phần tham gia. Giáo viên chưa tận dụng được các tình huống mô phỏng giao tiếp thực tế trong môi trường văn phòng. Kết quả là sinh viên có kiến thức lý thuyết nhưng thiếu khả năng ứng dụng vào thực tiễn công việc. Phương pháp này không đáp ứng được yêu cầu hình thành kỹ năng sống cần thiết cho người học.

2.2. Thách thức trong triển khai dạy học tích cực

Việc triển khai phương pháp dạy học tích cực tại trường cao đẳng đối mặt nhiều thách thức. Cơ sở vật chất lớp học chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt động nhóm và thực hành giao tiếp. Số lượng sinh viên mỗi lớp đông, gây khó khăn cho việc cá nhân hóa quá trình học tập. Giáo viên cần được đào tạo nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng. Thời gian biểu cứng nhắc hạn chế việc bố trí đủ giờ thực hành cho sinh viên. Nguồn tài liệu, giáo trình phục vụ dạy học tích cực còn chưa phong phú. Sự phối hợp giữa các bộ môn trong chương trình đào tạo kỹ năng mềm chưa chặt chẽ.

III. Giải pháp tổ chức dạy học kỹ năng giao tiếp theo phương pháp tích cực

Tổ chức dạy học môn Kỹ năng giao tiếp theo phương pháp tích cực đòi hỏi sự đa dạng hóa hình thức tổ chức. Giáo viên cần kết hợp giảng dạy cả lớp, làm việc nhóm nhỏ và cá nhân hóa quá trình học tập. Hoạt động thảo luận nhóm giúp sinh viên trau dồi kỹ năng lắng nghe và trình bày quan điểm. Tình huống mô phỏng giao tiếp văn phòng tạo cơ hội thực hành trong môi trường an toàn. Phương pháp đóng vai giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng giải quyết xung đột và khắc phục khó khăn. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức và tạo điều kiện để sinh viên chủ động khám phá. Việc sắp xếp giờ học cần phù hợp với mục tiêu, nội dung từng bài học cụ thể. Môi trường lớp học phải khuyến khích sự tương tác, trao đổi giữa sinh viên với nhau và với giáo viên. Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng cả quá trình thực hành lẫn kiến thức lý thuyết.

3.1. Đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học

Hình thức tổ chức dạy học xác định đơn vị nội dung được thực hiện với quy mô và thành phần phù hợp. Giáo viên cần linh hoạt chuyển đổi giữa hình thức cả lớp, nhóm nhỏ và cá nhân trong mỗi tiết học. Hoạt động nhóm từ bốn đến sáu sinh viên tạo điều kiện tương tác và trao đổi hiệu quả. Hình thức tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. Mỗi bài học cần được thiết kế với nhiều hình thức tổ chức khác nhau để tăng tính hấp dẫn. Sự sắp xếp này giúp quá trình dạy học đạt kết quả tốt nhất cho việc hình thành kỹ năng giao tiếp.

3.2. Thiết kế hoạt động thực hành giao tiếp thực tế

Hoạt động thực hành giao tiếp cần được thiết kế dựa trên tình huống thực tế trong môi trường văn phòng. Sinh viên được rèn luyện kỹ năng làm quen, lắng nghe và nói trước đám đông qua các bài tập mô phỏng. Phương pháp đóng vai giúp sinh viên trải nghiệm các tình huống giao tiếp phức tạp và tìm cách giải quyết. Giáo viên tổ chức các buổi thuyết trình nhóm để sinh viên nâng cao kỹ năng trình bày. Hoạt động thảo luận tranh luận giúp phát triển tư duy phản biện và kỹ năng tranh luận. Thực hành thường xuyên cả trong lớp học lẫn đời sống hàng ngày giúp kỹ năng được nâng lên thành kỹ xảo.

IV. Kết luận và ứng dụng phương pháp dạy học tích cực trong thực tiễn

Phương pháp dạy học tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt trong tổ chức hoạt động dạy học môn Kỹ năng giao tiếp. Sinh viên được phát triển tính tích cực, chủ động trong học tập và tăng cường trao đổi với giáo viên. Ngoài kiến thức, sinh viên được trang bị kỹ năng sống nói chung và kỹ năng giao tiếp nói riêng. Các kỹ năng bao gồm làm quen, lắng nghe, nói trước đám đông, giải quyết xung đột. Đây là những kỹ năng cần thiết cho sinh viên trong môi trường làm việc hiện đại. Năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực sáng tạo được hình thành thông qua quá trình học tập tích cực. Nhân cách sinh viên được hoàn thiện khi tham gia các hoạt động giao tiếp đa dạng. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng rộng rãi tại các trường cao đẳng, đại học khác. Mô hình tổ chức dạy học này đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho xã hội.

4.1. Hiệu quả đạt được từ phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực giúp hình thành ở sinh viên năng lực hoạt động trí tuệ và sáng tạo có hệ thống. Sinh viên chủ động hơn trong quá trình học tập, tích cực tham gia thảo luận và thực hành trên lớp. Kỹ năng giao tiếp được rèn luyện thường xuyên giúp sinh viên tự tin hơn trong giao tiếp xã hội. Chất lượng đào tạo được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng về kỹ năng mềm. Sinh viên tốt nghiệp có khả năng thích ứng tốt hơn với môi trường làm việc chuyên nghiệp. Phương pháp này góp phần hoàn thiện nhân cách và phát triển toàn diện cho người học.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình đào tạo kỹ năng giao tiếp

Mô hình tổ chức dạy học kỹ năng giao tiếp theo phương pháp tích cực có khả năng áp dụng rộng rãi. Các trường cao đẳng, đại học có thể tham khảo và điều chỉnh phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất. Chương trình đào tạo cần được xây dựng bài bản với giáo trình, tài liệu hướng dẫn chi tiết. Đội ngũ giáo viên cần được tập huấn về phương pháp dạy học tích cực trước khi triển khai. Sự phối hợp giữa các khoa, bộ môn trong trường giúp tạo môi trường rèn luyện kỹ năng toàn diện. Kết quả nghiên cứu từ trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ là cơ sở thực tiễn đáng tin cậy.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ tổ chức hoạt động dạy học môn kỹ năng giao tiếp tại trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật cần thơ theo phương pháp dạy học tích cực

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận - kiến nghị, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động dạy học môn kỹ năng giao tiếp theo phƣơng pháp dạy học tích cực Chƣơng 2: Thực trạng về tổ chức hoạt động dạy học môn kỹ năng giao tiếp tại trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ Chƣơng 3: Triển khai tổ chức hoạt động dạy học môn kỹ năng giao tiếp theo phƣơng pháp dạy học tích cực và thực nghiệm sƣ phạm. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN KỸ NĂNG GIAO TIẾP THEO PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu * Trên thế giới Vấn đề giao tiếp, KNGT và giáo dục KNGT cho con ngƣời nói chung, cho HSSV nói riêng đã đƣợc các nƣớc trên thế giới quan tâm khai thác, nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau. Đó là những khái niệm đơn giản mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp xã hội ở từng thời điểm khác nhau: Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, ở các lĩnh vực khác nhau, nhƣ kỹ năng lao động của tác giả V.Tseburseva; Kỹ năng học tập của tác giả G.Menchinxcaia; Kỹ năng hoạt động sƣ phạm của X.

Trong các chƣơng trình hành động của UNESCO, UNICEF, các chƣơng trình hành động của các tổ chức xã hội nƣớc ngoài, KNGT đƣợc nghiên cứu thể hiện chủ yếu là xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động mô tả các kỹ năng cụ thể, các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó. Ngƣời nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến những kỹ năng cơ bản nhƣ: KN nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định. Nghiên cứu những KNGT đơn lẻ: Phát triển kỹ năng nghe (A. C Pace [45] và John Steward [48])đƣa ra những yêu cầu cần thực hiện trong khi nghe.

Tại Úc: Hội đồng Kinh doanh cùng với Phòng thƣơng mại và công nghiệp có sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học cùng Hội đồng giáo dục quốc gia Úc năm 2002 đã xuất bản quyển sách “Kỹ năng hành nghề cho tƣơng lai”. Các kỹ 6 năng hành nghề đƣợc trình bày trong sách gồm có 8 kỹ năng, trong đó KNGT là một kỹ năng đƣợc đề cập đầu tiên.Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của KNGT trong xã hội.Vì vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn tìm tòi để hoàn thiện trong quá trình giáo dục và giáo dục KNGT. Thực tế cho thấy, các hình thức tổ chức dạy học đƣợc xác định bởi các thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập, bởi tính nhất quán của những dạng hoạt động của HS và bởi phƣơng thức GV chỉ đạo HS. Sự thay đổi các hình thức tổ chức dạy học để phản ánh nhiệm vụ mới của việc dạy học và giáo dục bao giờ cũng gắn liền với sự thay đổi tính chất chung của hoạt động của GV và HS.

* Ở Việt Nam Vấn đề giao tiếp ở nƣớc ta đƣợc xem là một trong những kỹ năng cơ bản. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, những thành tựu khoa học và thông tin bùng nổ, thì vấn đề giao tiếp trong xã hội đƣợc coi là điều kiện tất yếu để khẳng định sự thành công trong cuộc sống hay nói cách khác, đó là sự “cạnh tranh” để phát triển, là điều kiện tất yếu mở rộng mối quan hệ, khẳng định đƣợc thành công trong các lĩnh vực hoạt động của con ngƣời. Ở nƣớc ta, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề giao tiếp, KNGT dƣới góc độ tâm lý GDH. Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam nhƣ Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lê.

đƣợc công bố, in ấn, xuất bản và áp dụng trong giáo dục, trong cuộc sống. Trong những năm gần đây, nghiên cứu KNGT về tổ chức hoạt động dạy học tập trung khá lớn vào góc độ chuyên môn, nghề nghiệp: Các nghiên cứu về giáo dục KNGT cho đối tƣợng HS phổ thông khá phong phú với cách tiếp cận đa dạng: nghiên cứu KNGT và những yếu tố ảnh hƣởng đến KNGT của HS dân tộc thiểu số, HS miền núi trong Luận án tiến sĩ năm 2012 của tác giả Ngô Giang Nam. “Đặc điểm giao tiếp của HS trung học cơ sở dân tộc Mƣờng” của tác giả Phạm Song Hà, phát triển KNGT cho ngƣời học ngoại ngữ của Bùi Thị Hiền năm 2015; giáo dục phát triển KNGT cho học sinh phổ thông qua các môn học khác nhau nhƣ Toán, 7 Giáo dục công dân của các tác giả Đinh Thế Định, Nguyễn Thị Nga [31], Trần Ngọc Bích [6]; Phƣơng pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục KNGT trong các trƣờng đào tạo nghề của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà [23]). Giao tiếp trong môi trƣờng sƣ phạm, tổ chức hoạt động daỵ học các môn học trong trƣờng phổ thông, trƣờng cao đẳng, đại học cũng đã đƣợc đề cập trong một số đề tài, bài viết, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án nhƣ: Nguyễn Kỳ [26] với quyển sách “Thiết kế bài học theo PP tích cực”.

Tác giả đã thực nghiệm thành công và có hiệu quả phƣơng pháp này ở trƣờng tiểu học Lê Văn Tám (Hà Nội).Trong quyển sách này tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa thầy và trò trong nhà trƣờng.Đó là mối quan hệ thầy – lớp – trò. Trần Bá Hoành với các bài:”Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 96 tháng 1/2002 [25], bài “PP tích cực” đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 32 tháng 3/2003 [24] đã nêu rõ thế nào là dạy học lấy HS làm trung tâm, thế nào là PPDH tích cực. Tác giả chỉ rõ những đặc trƣng của PPDH tích cực. Quyển sách “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình dạy học” của tác giả Nguyễn Ngọc Báo [5] đã đƣa ra quan niệm học là hoạt động tích cực, tự lực và là trung tâm của quá trình dạy học và đã nêu lên các PP nhằm tích cực hóa hoạt động của HS.

Đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học chƣơng Dao động học Vật lý lớp 12 theo hƣớng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS THPT miền núi” của Phạm Văn Cƣờng (2013). Luận văn Thạc sĩ “Biện pháp giáo dục KNGT cho HS tiểu học trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên -Tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009). Luận án Tiến sĩ “Giáo dục KNGT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo tiếp cận hợp tác” của Nguyễn Thị Thu Hà (2016). Luận văn Thạc sĩ “Tổ chức hoạt động dạy học môn Vật lý Đại cƣơng theo hƣớng phát huy năng lực sáng tạo của sinh viên các trƣờng Cao đẳng Công nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Huệ (2009).

8 Luận văn Thạc sĩ “Tổ chức hoạt động dạy học theo hƣớng phát huy năng lực tƣ duy sáng tạo cho sinh viên các trƣờng Cao đẳng, đại học khối Nông-Lâm-Ngƣ khi dạy phần “Nhiệt học trong chƣơng trình Vật lý đại cƣơng” của Nguyễn Thị Thu Hằng (2010). Theo người nghiên cứu: Nhìn chung các đề tài, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án trên đã đề cập nhiều góc độ khác nhau về KNGT, hoạt động giáo dụcKNGT trên những đối tượng và địa bàn khác nhau. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về dạyhọc môn KNGT được thực hiện trên đối tượng HS TCCN, đặc biệt là chưa có đề tài nào nghiên cứu về ―Tổ chức hoạt động dạy học môn KNGT cho HS TCCN tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ theo phương pháp dạy học tích cực”. Do đó, nghiên cứu về đề tài này là một yêu cầu khách quan và rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo của trường, góp phần đào tạo nhân lực cho thành phố Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020.

Các khái niệmcơ bản 1. Dạy học Theo từ điển GDH, dạy học (giảng dạy) là hoạt động truyền thụ kiến thức, kỹ năng cho ngƣời học của nhà giáo.Giảng dạy luôn luôn đi đôi và gắn liền với hoạt động học tập của HS và hợp thành hoạt động dạy – học trong lĩnh vực sƣ phạm. Cũng theo từ điển GDH,“Học là quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dƣới sự hƣớng dẫn của nhà giáo. Học luôn gắn liền với hoạt động dạy của nhà giáo và hợp thành hoạt động dạy-học trong lĩnh vực sƣ phạm.

201] Dạy – học là một hoạt động diễn ra trên hai tuyến song hành giữa ngƣời dạy và ngƣời học. Vì vậy, quá trình dạy học chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa GV và HS trên các khâu: mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, hay nói cách khác là khi có sự hợp tác ăn ý giữa ngƣời dạy và ngƣời học. Trong mối quan hệ này, ngƣời dạy đóng vai trò định hƣớng, gợi mở, cung cấp, chỉ dẫn những điều cần thiết về mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp… phù hợp với ngƣời học, còn ngƣời học tự mình chủ động xác định, lựa chọn những điều đƣợc cung cấp sao cho 9 phù hợp với năng lực, sở trƣờng, điều kiện riêng của mình để hoàn thành tốt nhất yêu cầu của chƣơng trình quy định.62] Dạy học bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy và hoạt động học. Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau.

Hoạt động dạy của ngƣời GV: Là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV đối với hoạt động nhận thức – học tập của HS, giúp HS tìm tòi khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân. Để hiểu thực chất của hoạt động này, GV cần đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức – học tập, xây dựng kế hoạch hoạt động của mình và dự tính hoạt động nhận thức – học tập tƣơng ứng của ngƣời học, kích thích tính tự giác, tính tích cực, độc lập, chủ động sáng tạo của ngƣời học bằng cách tạo nên nhu cầu, động cơ, hứng thú, khêu gợi tính tò mò, ham hiểu biết của ngƣời học, làm cho họ ý thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ học tập của mình, cuối cùng là theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của ngƣời học, qua đó có những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa kịp thời những thiếu sót, sai lầm của họ cũng nhƣ trong công tác giảng dạy của mình.[18] Tóm lại: Dạy là sự tổ chức và điều khiển tối ưu quá trình HS chiếm lĩnh tri thức nhằm hình thành và phát triển nhân cách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ