Lời mở đầu]. Công ước này cũng đã khẳng định rằng việc xâm hại, phạm tội đối với trẻ em có tính nguy hiểm cao với xã hội và các quốc gia thành viên cần có biện pháp về mặt pháp lý để ngăn chặn việc này. Tiêu biểu là các quy định: Không trẻ em nào phải chịu sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp vào việc riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín của các em cũng như sự công kích bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh của các em. Trẻ em có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại sự can thiệp hay công kích như vậy [25, Điều 16].
Các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợp để bảo vệ trẻ em khỏi tất cả các hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, bị thương tổn hay lạm dụng, bị bỏ mặc chăm sóc hoặc xao nhãng, bị ngược đãi hoặc bóc lột, gồm cả lạm dụng tình dục trong khi trẻ em vẫn nằm trong vòng chăm sóc của cha hay mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ, một hay nhiều người giám hộ pháp lý, hoặc của bất kỳ người nào khác được giao việc chăm sóc trẻ em [25, Điều 19]. Các quốc gia thành viên cam kết bảo vệ trẻ em chống tất cả các hình thức bóc lột tình dọc và lạm dụng tình dục [25, Điều 34]. 14 Các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả những biện pháp ở các cấp quốc gia, song phương và đa phương thích hợp để ngăn ngừa việc bắt cóc, buôn bán trẻ em vì bất kỳ mục đích gì hay dưới bất kỳ hình thức nào [25, Điều 35]. Bên cạnh Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, PLHS của một số quốc gia cũng quy định TNHS đối với trường hợp hành vi phạm tội tác động đến đối tượng là trẻ em.
Tiêu biểu là một số quy định như sau: Theo BLHS Trung Quốc: Người nào dùng bạo lực, uy hiếp hoặc các thủ đoạn khác cưỡng hiếp phụ nữ, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm. Giao cấu với trẻ em gái chưa đủ 14 tuổi, coi như phạm tội hiếp dâm, bị xử phạt nặng… [20, Điều 236]. Người nào dùng bạo lực, uy hiếp hoặc các thủ đoạn khác cưỡng dâm phụ nữ hoặc làm nhục phụ nữ, thì bị phạt tù đến 5 năm hoặc cải tạo lao động. Nếu phạm tội nói trên ở trước đám đông hoặc trước công chúng nơi công cộng, thì bị phạt tù có thời hạn từ 5 năm trở lên.
Nếu phạm tội loạn luân với trẻ em, thì xử phạt nặng dựa theo các quy định trên [20, Điều 237]… Theo BLHS Thụy Điển: Người nào bắt và đưa đi hoặc giam giữ trẻ em hoặc người khác với mục đích gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của họ, buộc họ phục dịch hoặc vì mục đích chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ bốn năm đến mười năm hoặc tù chung thân về tội bắt cóc [40, Điều 1 chương 4]. Người nào phổ biến cho trẻ em hoặc thanh niên bài viết, hình ảnh hoặc băng kĩ thuật có nội dung có thể làm cho họ trở nên hung ác hoặc bằng cách khác gây nguy hiểm nghiêm trọng đến việc giáo 15 dục đạo đức cho các em thì bị phạt tiền hoặc phạt tù đến sáu tháng về tội đưa trẻ em vào con đường lầm lạc [40, Điều 12 chương 16] (Luật 1998:1444) v.v… Pháp luật Việt Nam cũng coi việc phạm tội đối với trẻ em là một hành vi nguy hiểm cho xã hội, là việc người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của trẻ em và các quyền khác mà trẻ em có theo quy định của pháp luật. Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định rõ Nhà nước bảo hộ quyền lợi của trẻ em. “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấ n đề về trẻ em.
Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” [33, Điều 37]. Ngoài ra, việc thực hiện các hành vi phạm tội đối với trẻ em còn được quy định là một tình tiết để xác định TNHS đối với người phạm tội trong BLHS Việt Nam hiện hành. Theo đó, tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” được quy định là một tình tiết tăng nặng TNHS tại khoản 1 Điều 48, là tình tiêt định tội của một số tội phạm cụ thể như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội giao cấu với trẻ em, Tội dâm ô với trẻ em… và là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của các tội như: Tội giết người, Tội hành hạ người khác, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản… Định nghĩa trẻ em Hiện nay trong thực tiễn tồn tại nhiều cụm từ khác nhau để nói về những người ở một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của con người như “trẻ em”, trẻ con”, “trẻ thơ”… Ở góc độ khoa học, trẻ em được định nghĩa tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể, như trong triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tương lai của quốc gia, dân tộc đều tuỳ thuộc vào 16 việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đối với chuyên ngành xã hội học, trẻ em được xác định là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người lớn, vì vậy, cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện sinh trưởng, nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc phát triển thành người lớn.
Trong tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân cách con người. Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuổi. Điều này có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào năm sinh của người đó tại thời điểm xác định [56]. Khái niệm trẻ em được quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 như sau: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [25, Điều 1].
Theo đó, trẻ em là đối tượng thỏa mãn hai tiêu chí sau: (1) Là mọi người, không phân biệt quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, tầng lớp, giai cấp… (2) Có độ tuổi dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại có quy định khác về trẻ em. Cụ thể là: Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [34, Điều 1]. Các điều luật khác của BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 cũng có những quy định về độ tuổi của trẻ em, chẳng hạn như: khoản 1 Điều 112 quy định: “Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”, khoản 4 Điều 112 quy định “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em”, khoản 1 Điều 114 quy định “Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi 17 đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm”, hay khoản 1 Điều 115 quy định “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”… Các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS cũng có những quy định về trẻ em.2 phần 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS quy định ““Trẻ em” được xác định là người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” [37]; hay khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT/TANDTC- VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23 tháng 7 năm 2013 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ tư pháp hướng dẫn việc truy cứu TNHS đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em quy định: ““Mua bán trẻ em” là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây:…” Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, trẻ em là đối tượng phải thỏa mãn hai tiêu chí: (1) Là công dân Việt Nam (2) Có độ tuổi dưới 16 tuổi Như vậy, quan niệm trẻ em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam có sự khác nhau rõ rệt. Thứ nhất, nếu như theo pháp luật quốc tế, trẻ em là mọi người không phân biệt quốc tịch khác nhau, thì theo pháp luật Việt Nam, trẻ em phải là công dân Việt Nam – người có quốc tịch Việt Nam.
Thứ hai, nếu như theo pháp luật quốc tế, trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành 18 niên sớm hơn, thì pháp luật Việt Nam giới hạn độ tuổi của trẻ em ở mức thấp hơn, trẻ em là người dưới 16 tuổi, và những người từ đủ 16 tuổi trở lên không được coi là trẻ em. Từ các quan điểm khác nhau về trẻ em nêu trên, khái niệm trẻ em có thể được hiểu như sau: Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, là những người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, chưa tự thực hiện được các quyền của mình và không có hoặc hạn chế khả năng tự vệ [61]. Trong đó, có thể hiểu độ tuổi của trẻ em là khoảng thời gian từ khi trẻ được sinh ra đời cho đến năm 16 tuổi (theo pháp luật Việt Nam) hoặc năm 18 tuổi (theo pháp luật quốc tế). Phân biệt trẻ em và người chưa thành niên Pháp luật Việt Nam có sự phân biệt tương đối rõ ràng giữa trẻ em và người chưa thành niên.