Chương 1: Khái quát tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975. Sự xuất hiện của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng Chương 2: Hiện thực đời sống và thế giới nhân vật trong “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường v à “ Dòng sông mía” của Đào Thắng Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU 1975. SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGUYỄN KHĂC TRƢỜNG VÀ ĐÀO THẮNG 1.1 Khái quát tiểu thuyết viết về nông thôn trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại 1. Tiểu thuyết viết về nông thôn trước đổi mới (1986) 1.1 Thời kỳ 1930 – 1945 Viết về nông thôn giai đoạn này trước hết phải kể đến tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn.
Tuy nhiên, tác phẩm của họ mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả những cảnh sống nghèo khổ, tối tăm, luộm thuộm do những thói quen, do trình độ thấp kém, hoặc do mê tín dị đoan của người nông dân, chứ không phải do bị áp bức, bóc lột. Do vậy, tác phẩm của họ còn nhiều hạn chế. Để lại nhiều tác phẩm viết về nông thôn có giá trị giai đoạn này phải kể đến các nhà văn hiện thực nổi tiếng như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… Trong tác phẩm của họ, nông thôn hiện lên với sự khắc nghiệt của sưu cao thuế nặng, vô lý và bất công, của những thủ đoạn bóc lột tàn nhẫn, trắng trợn (Tắt đèn, Bước đường cùng). Đó là nông thôn của những hủ tục nhiêu khê, rườm rà; của những mâu thuẫn, chèn ép giữa các phe cánh tranh nhau quyền lợi, địa vị (Việc làng).
Đó là nông thôn của những người cùng khổ bị dồn tới chân tường (chị Dậu, anh Pha); của những cảnh lầm than, cơ cực (bán chó, bán con, mót khoai…), của những kiếp sống đau đớn quằn quại (Lão Hạc), hoặc liều lĩnh biến chất (Chí Phèo)…có thể nói, các nhà văn hiện thực đã tái hiện lại một bức tranh nông thôn tiêu biểu, sắc nét. Trong Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), tác giả đã thành công trong việc vạch trần bản chất xấu xa của thực dân phong kiến, và dựng lên nhân vật Nghị Lại – một điển hình khá toàn diện của giai cấp địa chủ, phản động với tính cách xảo quyệt, đầy thủ đoạn, mưu mô. Tác giả đã tập trung vạch trần âm mưu cướp ruộng đất của bọn địa chủ, chủ yếu bằng thủ đoạn cho vay cắt cổ. Chính đây là nguyên nhân đã đẩy gia đình anh Pha vào cảnh nhà nát cửa tan, tới cảnh bước đường cùng.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), tác giả cũng tỏ ra xuất sắc trong việc chỉ ra hệ thống chính quyền thống trị ở nông thôn. Bọn cường hào nắm quyền ở làng Đông Xá đúng là những con người xấu xa và hung ác. Trong vụ sưu thuế, chúng đã cùm trói, đánh đập anh Dậu một cách dã man vì nghèo không có tiền nộp sưu thuế, bởi phải nộp thêm thứ thuế có tên hết sức vô lí: là thuế cho người đã mất (anh Dậu phải nộp thuế thân cho người em trai đã mất). Vì lý do này mà chị Dậu đã phải bán cả con lẫn chó.
Qua lời nói của hai vợ chồng nhà Nghị Quế, người đọc đã thấy rõ nhân phẩm, phẩm giá của con người (cụ thể là cái Tý) ở đây bị đối xử, bị coi như súc vật, thậm chí có khi còn không bằng súc vật. Lời nói của nhân vật Nghị Quế đã cho thấy rõ điều đó: “Tôi nuôi chó để nó coi nhà, nuôi chó còn hơn nuôi đứa ở” [95;Tr.54,72]; hay qua lời diếc móc của mụ vợ tên đại địa chủ: ―Mày ăn cơm chó nhà bà cũng chưa đáng đâu. Con chó nhà bà còn được mấy chục, con người như mày bà chỉ mua có một đồng đấy thôi‖.54,73] Đến với truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, bộ mặt của bọn cường hào, ác bá hiện lên trong làng quê Vũ Đại cũng thật là ghê gớm. Trước hết là cảnh “Quần ngư tranh thực” giữa hai phe cánh cha con Bá Kiến và phe cánh Đội tảo, nhưng nổi lên rõ nét hơn vẫn là những tội ác của chúng với người nông dân.
Đặc biệt, với tác phẩm Chí Phèo, tác giả đã phát hiện tội ác dã man nhất của bọn cường hào nông thôn lúc bấy giờ là đẩy người nông dân (cụ thể là Chí Phèo) từ một cố nông với bản chất hiền lành, chân chất, chịu khó làm ăn đến chỗ bị lưu manh hoá mất hết cả nhân hình lẫn nhân tính, có muốn trở thành người lương thiện cũng không thể. Bức tranh toàn cảnh nông thôn của các nhà văn hiện thực như những đàn chim én báo hiệu mùa xuân cách mạng sắp tới gần. Ở những tác phẩm này, ngoài giá trị hiện thực còn chứa đựng giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc. Đó là những đòi hỏi về quyền sống, quyền làm người.
Đó là sự quan tâm đến số phận của những người bé nhỏ, đầy bất hạnh. Đó là ý thức phản kháng của nhân vật khi bị dồn vào những bước đường không còn lối thoát. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Thời kỳ 1945 – 1954 Sau cách mạng, ranh giới giữa văn xuôi viết về nông thôn và văn xuôi nói chung không có sự phân biệt rõ rệt, nó hòa quyện vào nhau và được gọi dưới tên chung là: văn xuôi kháng chiến. Thời kỳ này, đề tài nông thôn chủ yếu được viết với cảm hứng ngợi ca, khẳng định, người nông dân không còn là nạn nhân đáng thương bị xã hội cũ chèn ép như trước mà xuất hiện với tư thế là chủ nhân chân chính của xã hội.
Họ không còn khốn khổ, bệ rạc như trước nữa, họ đẹp ở lý tưởng, ở các mối quan hệ cộng đồng và đẹp ở đạo đức cách mạng. Những người nông dân đã đặt niềm tin vào một mô hình xã hội lý tưởng, tin vào lòng yêu nước của tập thể hoặc cá nhân. Tình yêu quê hương đất nước hòa lẫn tình riêng. Đó là những ông Hai (Làng - Kim Lân), ông Hoạch, chị Tin, ông Chức (Con trâu - Nguyễn văn Bổng)… 1.3 Thời kỳ 1954 – 1960 Nông thôn Việt Nam giai đoạn này nổi lên với hai sự kiện: cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hóa nông nghiệp.
Đường lối cải cách ruộng đất của Đảng là đúng ―đánh đổ địa chủ mang lại ruộng đất cho nông dân‖, song quan niệm về giai cấp còn máy móc, giáo điều và khi thực hiện lại có những biện pháp cực đoan, sai lầm nên đã xảy ra một số hậu quả nghiêm trọng. Cuối thời cải cách ruộng đất Đảng chủ trương sửa sai, tình hình nông thôn do vậy đã được cải thiện dần. Viết về nông thôn trong cải cách ruộng đất có các sáng tác: Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, Nông dân với địa chủ của Nguyễn Công Hoan, Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng, Ông lão hàng xóm của Kim Lân… Đây là những tác phẩm của các tác giả có quá trình và thành tựu sáng tác từ trước cách mạng. Nhưng đến giai đoạn này họ vẫn chưa vượt qua giới hạn nhận thức và quan niệm chung về đấu tranh giai cấp.
Chẳng hạn trong tác phẩm Nông dân với địa chủ (Nguyễn Công Hoan) sau khi lập ra các phép tính ―Trên giấy‖ đã đi đến kết luận: Tổng cộng trong 29 năm, nó (tức địa chủ Trừng) cướp không của nông dân mất 230. 302 tạ 28 cân thóc. Đây là một con số khó tin, hay trong Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng) đã để một nhân vật cốt cán Chữ trình bày mục đích của việc quy định thành phần thật đơn giản, máy móc, tiêu cực: Trước 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nay địa chủ với nông dân như sỏi đất trộn lẫn với thóc gạo trong bồ. Nay ta quy định thành phần là sàng sảy, phân biệt ra.
Gạo có hạt mẩy, hạt bé, hạt trắng, hạt lứt, nhưng đều là gạo thì đậu trên mặt sàn, còn sỏi đất thì đều vứt riêng ra. Ở cuối thời kỳ sửa sai đã có một số tác giả viết về cải cách ruộng đất, nhưng quan niệm và sự miêu tả đã khác trước, nghĩa là đúng với thực tế hơn. Còn trong tiểu thuyết Sắp cưới, Vũ Bão viết về những sự kiện đã xảy ra trong khi tiến hành cải cách ruộng đất tại một đơn vị cơ sở. Viết về phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, nhiều tác phẩm cũng để lại những dấu ấn nhất định, như: Đào Vũ với Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm,Vũ Thị Thường với Cái hom giỏ và Gánh vác, Nguyễn Kiên với Đồng tháng năm, Nguyễn Địch Dũng với Trai làng quyền, Ngô Ngọc Bội với Chị cả Phây, Nguyễn Khải với Mùa lạc, Tầm nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa… Những tác phẩm kể trên đã có những ―gặt hái‖ bước đầu.
Trong Cái sân gạch, Đào Vũ đã nêu được không khí nông thôn trong những ngày đầu xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Qua những toan tính trăn trở của lão Am xoay quanh sự kiện ―vào hợp tác‖, tác giả đã xây dựng một gương mặt nông dân khá sắc nét. Đến với Tầm nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa, Nguyễn Khải lại xoay quanh vấn đề mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Nhân vật trong những sáng tác này đều là những con người tiêu biểu, họ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân của mình để xây dựng tập thể, cống hiến cho công việc chung của toàn xã hội.
Chính vì vậy, qua Tầm nhìn xa, Nguyễn Khải được đánh giá là người đã phát hiện và thể hiện thành công sự biến tướng trong bản chất tư hữu ở người nông dân qua những điều kiện và hoàn cảnh mới ở nhân vật Tuy Kiền. Có thể nói bản chất tư hữu của người nông dân đã ảnh hưởng khá sắc nét và cản trở lề lối làm ăn tập thể và nền sản xuất xã hội chủ nghĩa. Nhìn chung, những sáng tác viết về nông thôn giai đoạn này ngoài những phát hiện mới về bản chất tư hữu ở người nông dân còn những điều kiện và hoàn cảnh mới còn xuất hiện những trang miêu tả khung cảnh lao động sản xuất, những phong tục tập quán cùng những quan hệ làng xóm khá sinh động. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.