Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá, là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng. Đất đai cũng là điều kiện quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng… Ở mỗi chế độ khác nhau việc chiếm hữu đất đai cũng khác nhau.
Trong chế độ phong kiến, tư bản đất đai thuộc sở hữu tư nhân, giai cấp thống trị chiếm hữu hầu hết diện tích đất đai. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đất đai phục vụ lợi ích chung của nhân dân lao động và toàn thể xã hội. Để có một lãnh thổ như ngày nay nhân dân ta đã phải dũng cảm và quật cường chiến đấu chống kẻ thù ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên để khai phá và giữ gìn bờ cõi. Tách khỏi những điều kiện của nhà nước, của cộng đồng thì không một cá nhân nào có thể khai phá, giữ gìn bất kỳ một vùng đất nào.
Vì thế, đất đai là tài sản vô giá. Hiến pháp 1992 qui định: "Đất đai, rừng núi, sông hồ… đều thuộc sở hữu toàn dân" [9, Điều 17]. Việc qui định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là điều kiện tiên quyết và cực kỳ quan trọng để đảm bảo chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tư cách là chủ sở hữu đất đai trên phạm vi cả nước, Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với đất đai là quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.
Nhưng trên thực tế, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng hợp pháp theo qui định của pháp luật. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 1999, có giải thích: Quyền sử dụng đất của Nhà nước là quyền khai thác các thuộc tính có ích từ đất để phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Nhà nước thực hiện quyền sử dụng đất một cách gián tiếp thông qua việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng. Các tổ chức cá nhân này khi sử dụng có nghĩa vụ đóng góp vật chất cho Nhà nước dưới dạng thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất [21, tr.
Cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực kể từ ngày 15/10/1993 đã ra đời, lần đầu tiên tại Điều 3 qui định: "Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất" [10]. Qui định này cho thấy, đất đai được xác định là tài sản có giá và giá đó được xác định thông qua các giao dịch về quyền sử dụng đất trên thị trường. Cụ thể hơn, tại các qui định từ Điều 74 đến Điều 78 luật Đất đai năm 1993 qui định về điều kiện để các hộ gia đình, cá nhân được tham gia quan hệ chuyển quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, hai Pháp lệnh cùng ngày của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (14/10/1994) qui định về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước, các tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam cũng thể chế hóa quyền chuyển quyền sử dụng đất của các đối tượng nêu trên.
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia quan hệ chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện trong trật tự pháp lý an toàn, người có quyền sử dụng đất thực hiện quyền chuyển quyền sử dụng đất theo một thể thức nhất định, có cơ chế pháp lý rõ ràng nhằm ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia quan hệ. Bộ luật Dân sự năm 1995 đã cụ thể hóa cách thức thiết lập và thực hiện quyền chuyển quyền sử dụng đất, các nguyên tắc, điều kiện, cụ thể để các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực trên thực tế. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, với sự phát triển sôi động của nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai càng ngày càng phát triển phong phú và đa dạng cả về chủ thể, loại hình giao dịch cũng như phương thức giao dịch. Không nằm ngoài xu hướng đó, quan hệ chuyển quyền sử dụng đất cũng ngày càng mở rộng và phát triển hơn về phạm vi chủ thể, quyền sử dụng đất tham gia quan hệ chuyển quyền sử dụng đất cũng ngày phong phú và đa dạng hơn, kéo theo đó là tính chất và mức độ phức tạp của các phương thức chuyển quyền của từng loại hình chuyển quyền sử dụng đất cụ thể, về những thỏa thuận giữa các bên trong quá trình thực hiện quan hệ chuyển quyền, cũng như những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch… Pháp luật dân sự và pháp luật đất đai đã liên tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện.
Luật Đất đai năm 1993 qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2001 và gần đây nhất là Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, cùng với đó là sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2005 và hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản pháp lý của các bộ ngành có liên quan… là những văn bản pháp lý có ý nghĩa và vai trò quan trọng nhằm đảm bảo cho các quyền chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện theo một định hướng chung thống nhất, một trật tự pháp lý an toàn và ổn định. Đây thực sự là những cơ sở pháp lý trực tiếp điều chỉnh các quyền chuyển quyền sử dụng đất. Với tư cách là chủ sở hữu đất đai trên phạm vi cả nước, Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với đất đai với ba quyền năng của chủ sở hữu đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Nhưng trên thực tế, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng, đồng thời qui định quyền và nghĩa vụ trong quá trình sử dụng đất của Nhà nước.
Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chỉ được sử dụng đất trong phạm vi Nhà nước cho phép. Để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất và tạo điều kiện cho các quan hệ dân sự về đất đai được lưu thông phù hợp với cơ chế thị trường, Nhà nước cho phép các chủ thể được chuyển quyền sử dụng đất thông qua các 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình thức là: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tặng cho quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất. Chuyển quyền sử dụng đất về bản chất là giao dịch dân sự, nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch đó. Do vậy, ta có thể đưa ra khái niệm về chuyển quyền sử dụng đất như sau: chuyển quyền sử dụng đất là sự chuyển dịch quyền sử dụng đất từ chủ thể này sang chủ thể khác theo qui định của Bộ luật Dân sư và pháp luật về đất đai.
Chuyển quyền sử dụng đất tức là quyền sử dụng đất được đưa vào lưu thông dân sự mà không phải là đất, bởi lẽ đất là đối tượng của sở hữu toàn dân. Việc chuyển quyền sử dụng đất bị hạn chế bởi những điều kiện do Nhà nước qui định. Như vậy, quyền sử dụng đất là quyền phái sinh, quyền phụ thuộc vào quyền sở hữu đất đai của toàn dân - do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Đặc điểm của chuyển quyền sử dụng đất Như đã phân tích ở trên, với tính chất của đất đai là một tài sản được giao dịch dưới dạng "quyền".
Khi tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung, quan hệ chuyển quyền sử dụng đất có những đặc thù riêng, dưới đây là một số đặc trưng riêng đó: Một là, đối tượng chuyển quyền là một tài sản đặc biệt được biểu hiện dưới dạng "quyền" sử dụng đất mà không phải là đất (quyền sở hữu đất), bởi lẽ đất là đối tượng của sở hữu toàn dân. Khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 qui định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu" [13], nên pháp luật thực định ở Việt Nam đã có sự phân tách tương đối độc lập giữa quyền sở hữu đất đai của toàn dân và quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Theo đó, quyền sử dụng đất là tài sản, một loại tài sản đặc biệt không giống bất kỳ loại tài sản nào trong luật thực định Việt Nam. Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định: "Tài sản chung của hộ gia đình bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rừng, rừng trồng của hộ gia đình…" [14].
Như vậy, có thể rút ra kết luận: quyền sử dụng đất hợp pháp của cá nhân là tài sản của cá nhân; quyền sử dụng đất hợp pháp của tổ chức là tài sản của tổ chức… Cùng với qui định đó, pháp luật đất đai cũng ghi nhận và cho phép người sử dụng đất được thực hiện các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất như "người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển quyền sử dụng đất cho nhau theo qui định của pháp luật" [13, Điều 106]. Cụ thể hơn, các qui định từ Điều 109 đến Điều 121 Luật Đất đai ghi nhận cho người sử dụng đất trong các trường hợp cụ thể theo qui định của pháp luật được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong quá trình sử dụng. Điều này cho thấy rõ, đối tượng trong quan hệ chuyển quyền là quyền sử dụng đất được chỉ định bởi pháp luật chứ không phải đất đai hay quyền sử dụng đất nói chung. Quyền sử dụng đất của chủ thể chuyển quyền có được trên cơ sở được chủ sở hữu đại diện là Nhà nước xác lập và cho phép thực hiện.
Hai là, việc chuyển quyền sử dụng đất có thể được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau với bản chất pháp lý khác nhau. Các phương thức chuyển quyền sử dụng đất mà pháp luật qui định, bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, tặng cho và thừa kế quyền sử dụng đất.