Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy Cho đến nay, khái niệm “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy” chỉ được nói đến trong các công trình nghiên cứu khoa học. Khái niệm này là tập hợp các khái niệm nhỏ ghép lại với nhau, tác giả chia khái niệm này thành các khái niệm nhỏ để phân tích đó là khái niệm “quyền công tố”, “thực hành quyền công tố”, khái niệm “vụ án mua bán trái phép chất ma túy”, khái niệm “giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy”.
Từ đó tổng hợp một cách đầy đủ, toàn diện để đưa ra khái niệm “THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy”. Khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố” Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Công” được hiểu là “thuộc về Nhà nước”, mang yếu tố công cộng, thuộc tính chung xã hội, trái ngược với “tư” là thuộc về cá nhân, cái riêng. “Tố” được hiểu là “trình bày công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người phạm tội khác”. “Công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước tòa án”.
Theo từ điển Oxford, công tố (prosecution) được hiểu là quá trình thực hiện một loạt hoạt động pháp lý để chứng minh trước Tòa án rằng một người nào đó 7 phạm tội, là hoạt động chính thức cho việc buộc tội một hành vi phạm pháp [13]. Có thể hiểu rằng quyền công tố là quyền lực để cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục tố tụng đã được quy định để buộc tội hành vi phạm pháp trước cơ quan xét xử là Tòa án. Trong nghiên cứu khoa học, có một số ý kiến khác nhau về quyền công tố, nổi bật là các quan điểm: Quan điểm thứ nhất: Quyền công tố là quyền lực của VKS thay cho Nhà nước bảo vệ lợi ích công khi xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật. Có nghĩa là VKS đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực ra Tòa án để xét xử, nhằm bảo vệ lợi ích của chính Nhà nước và trật tự xã hội, trật tự pháp luật [26, tr.
Theo quan điểm này, VKS THQCT trên nhiều lĩnh vực không chỉ hình sự mà còn là dân sự, kinh tế và hoạt động tư pháp. Quan điểm thứ hai: Công tố chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, không phải là một chức năng riêng biệt của VKS. Quyền công tố là “quyền nhân danh Nhà nước kiểm sát tính hợp pháp của quá trình điều tra tội phạm, nhằm truy tố và buộc tội người phạm tội ra Tòa án để xét xử đúng người, đúng tội, đúng luật, đảm bảo lợi ích xã hội, lợi ích Nhà nước và đặc biệt là quyền tự do của con người” [9, tr. Theo quan điểm này, giữa THQCT và kiểm sát sự tuân theo pháp luật là quan hệ giữa cái riêng và cái chung, quan điểm này dựa trên lý luận của các nhà TTHS học Xô Viết, phổ biến trong giai đoạn trước khi Hiến pháp năm 1980 quy định cụ thể hơn về THQCT của VKS.
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền lực của Nhà nước giao cho các cơ quan cụ thể để thực hiện việc khởi tố, điều tra và truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử và buộc tội trước phiên tòa [25, tr. Quan điểm này được phổ biến trong các Nhà nước có sự phân chia quyền lực. Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền lực của Nhà nước giao cho VKS thực hiện các hoạt động truy tố người phạm tội trước Tòa án, buộc tội người đó tại phiên tòa với tội danh cụ thể bằng quá trình chứng minh có căn cứ và đúng pháp luật được thể hiện trong bản cáo trạng. Những người có quan điểm này cho rằng 8 đây là quan điểm phù hợp nhất với lý luận và thực tiễn hoạt động của VKS [24, tr.
Do có nhiều quan điểm khác nhau như đã nêu nên khái niệm quyền công tố tùy thuộc vào mỗi quan điểm cũng khác nhau về phạm vi giới hạn không gian, thời gian. Đa số các quan điểm đều cho rằng quyền công tố có phạm vi về mặt không gian trong lĩnh vực tố tụng hình sự, một số quan điểm lại cho rằng quyền công tố có phạm vi trong tất cả lĩnh vực tư pháp, từ tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, lao động, kinh tế… Về phạm vi thời gian, chưa có sự thống nhất về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố, ví dụ trong lĩnh vực tố tụng hình sự, có quan điểm cho rằng quyền công tố bắt đầu từ giai đoạn điều tra, cho đến truy tố và xét xử, có quan điểm cho rằng chỉ có ở giai đoạn xét xử. Tổng hợp các quan điểm khoa học, tác giả xin đưa ra khái niệm về quyền công tố như sau: Quyền công tố là quyền lực Nhà nước, được Nhà nước trao cho cơ quan công tố (VKS), đại diện Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự và truy tố, buộc tội đối với người phạm tội. Đối với khái niệm “thực hành quyền công tố”, đây là khái niệm liên quan mật thiết với khái niệm “quyền công tố”.
Khi xảy ra hành vi phạm tội, Nhà nước phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội đó. Điều này làm phát sinh quyền công tố và cơ quan công tố là VKS phải sử dụng chức năng của mình để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Theo từ điển Luật học: “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [29,tr. Cần lưu ý rằng tội phạm và người phạm tội là đối tượng THQCT.
Khi có sự việc phạm tội xảy ra, Cơ quan công tố (VKS) phải áp dụng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật tố tụng hình sự để phát hiện kịp thời tội phạm, khởi tố, điều tra làm rõ tội phạm, người hoặc pháp nhân phạm tội. Hoạt động này phải bắt đầu từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kéo dài đến giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, xét xử. Chủ thể THQCT là VKS mà người trực tiếp thực hiện hoạt động THQCT là 9 Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, KSV và Kiểm tra viên, trong đó, KSV là người có đầy đủ nhiệm vụ quyền hạn THQCT trong tất cả các hoạt động tố tụng. Một số quyền hạn quan trọng thuộc về Viện trưởng, Phó Viện trưởng được Viện trưởng phân công, như ra các quyết định phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, quyết định truy tố.
Đối với KSV không phải là Viện trưởng, Phó Viện trưởng nhưng là lãnh đạo đơn vị như Trưởng phòng, Phó trưởng phòng ở VKS cấp tỉnh, Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng ở VKSND tối cao được Lãnh đạo Viện ủy quyền được thực hiện một số thẩm quyền thuộc lãnh đạo Viện [33]. Mặc dù thuật ngữ “thực hành quyền công tố” đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nhưng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất. Qua quá trình nghiên cứu tổng hợp các quan điểm khoa học và thực tiễn quy định của pháp luật, tác giả xin đưa ra khái niệm về thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự, trong đó, VKSND sử dụng tổng hợp quyền lực do pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự, truy tố và buộc tội người phạm tội trước Tòa án, không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Bên cạnh chức năng THQCT của VKSND, chức năng kiểm sát điều tra vụ án cũng là một chức năng vô cùng quan trọng.
Kiểm sát điều tra là việc VKS thực hiện các biện pháp giám sát, mục đích nhằm bảo đảm các hoạt động điều tra được tiến hành một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung của pháp luật quy định, không trực tiếp ra quyết định, chỉ ra kiến nghị khi có vi phạm pháp luật tố tụng xảy ra hoặc kiến nghị yêu cầu khắc phục các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm. THQCT và kiểm sát điều tra vụ án luôn tồn tại song song từ khi khởi tố cho đến khi kết thúc việc điều tra và VKS ra quyết định truy tố, giữa hai chức năng tuy độc lập về chức năng, nhưng có tác động qua lại lẫn nhau. Nếu làm tốt nhiệm vụ THQCT sẽ hỗ trợ đắc lực cho KSĐT thực hiện vai trò của mình, như tạo điều kiện cho KSĐT tiếp cận các biện pháp điều tra nhằm duy trì 10 pháp luật, phát hiện, khắc phục vi phạm pháp luật về tố tụng; làm tốt nhiệm vụ kiểm sát điều tra sẽ giúp cho công tác THQCT phát huy khả năng quyết định quá trình tố tụng, như bảo đảm việc khởi tố, yêu cầu khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, huỷ các quyết định trái pháp luật của CQĐT một cách có căn cứ, đúng pháp luật. Như vậy, hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra tuy hai nhưng là một, hai hoạt động này phải được tiến hành song song và hỗ trợ lẫn nhau nhằm không để bất kỳ người nào bị bắt giữ, khởi tố trái pháp luật, không để lọt tội và không làm oan người vô tội, đảm bảo cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải đúng pháp luật và có căn cứ, việc điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, chính xác và đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện và khắc phục kịp thời.