Chương 1: Cơ sở lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất. Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất; Chương 3: Thực tiễn áp dụng, phương hướng hoàn thiện và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các quy định thừa kế QSDĐ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Khái niệm chung về thừa kế QSDĐ 1.1 Khái niệm thừa kế Tài sản chính là của cải vật chất (hoặc phi vật chất) luôn gắn với cuộc sống của mỗi con người, đó cũng chính là điều kiện cần thiết để phục vụ cho sự tồn tại của con người, nói riêng và của cả xã hội loài người, nói chung. Một cá nhân trong suốt cuộc đời của mình bằng các hoạt động lao động sản xuất, hoặc bằng các hình thức khác đã tạo lập ra được một khối tài sản để phục vụ cuộc sống của bản thân mình và người đó có toàn quyền định đoạt đối với các tài sản đó.
Nếu các tài sản đó không được sử dụng hết khi một người chết sẽ xuất hiện nhu cầu chuyển dịch các tài sản này cho những người còn sống theo những trình tự nhất định từ đó xuất hiện quan hệ thừa kế. Thừa kế, trước hết là một phạm trù kinh tế, xuất hiện và tồn tại trong bất cứ chế độ xã hội nào, kể cả khi xã hội chưa có nhà nước và pháp luật, khi đó thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh gắn liền với sự kiện một cá nhân chết và có tài sản để lại vì vậy thừa kế chính là sự dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang cho người còn sống tại thời điểm mở thừa kế, qua đó bảo đảm sự 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển giao tài sản từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khi Nhà nước và Pháp luật ra đời, sự tác động của pháp luật vào các quan hệ thừa kế đã làm cho các quan hệ này trở thành các quan hệ pháp luật về thừa kế, trong đó các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật. Từ đó khái niệm quyền thừa kế mới xuất hiện.
Nói cách khác, quyền thừa kế xuất hiện đồng thời với quyền sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Quyền sở hữu là một quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm bởi vì, mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời của mình bằng công sức, nỗ lực của bản thân hoặc bằng các cách thức được pháp luật thừa nhận đã tạo lập cho mình một khối tài sản nhất định và có quyền sở hữu với những tài sản đó vì thế pháp luật bảo vệ quyền sở hữu đó của họ và dành cho họ quyền định đoạt tối cao đối với các tài sản này. Các tài sản này có thể tồn tại lâu hơn cuộc sống của chủ sở hữu ra nó, vì vậy cần có một cơ chế pháp lý điều chỉnh sự chuyển dịch các tài sản của người chết sang cho người còn sống và vì thế chế định pháp luật thừa kế xuất hiện như một yêu cầu khách quan của xã hội. Có thể nói, bảo vệ quyền sở hữu cũng chính là bảo vệ cơ sở tồn tại của xã hội, bởi đó cũng chính là động lực cho sự phát triển cũng như bảo đảm một trật tự ổn định trong việc duy trì và phát triển các tài sản cũng như bảo đảm sự chuyển giao tài sản của người đã chết sang cho những người còn sống theo đúng ý chí, nguyện vọng của người có tài sản (trong trường hợp thừa kế theo di chúc) và theo các chuẩn mực được đặt ra bởi giai cấp cầm quyền bằng các chế định pháp luật về thừa kế.
Quyền sở hữu là tiền đề của quyền thừa kế và quyền thừa kế là căn cứ để củng cố quyền sở hữu. Chính vì thế quyền sở hữu và quyền thừa kế có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau: thừa kế bắt nguồn từ vấn đề sở hữu, chính 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vì thế việc ghi nhận quyền thừa kế và để lại thừa kế cũng chính là một phương thức bảo vệ quyền sở hữu. Dưới góc độ là một chế định pháp lý, thừa kế chịu ảnh hưởng bởi cơ sở hạ tầng theo nguyên lý cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng: trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, chế định thừa kế được ghi nhận ở những mức độ khác nhau, phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội. Bên cạnh đó các yếu tố của kiến trúc thượng tầng trong xã hội như trình độ lập pháp, ý chí của giai cấp cầm quyền, truyền thống và tập quán xã hội … cũng ảnh hưởng trực tiếp tới chế định thừa kế.
Quyền thừa kế là một quyền dân sự cơ bản của công dân vì thế quyền này được ghi nhận trước tiên trong Hiến Pháp. Hiến Pháp 1992(điều 58) quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. Việc bảo hộ này đã được cụ thể hoá trong Luật Đất Đai 2003, BLDS 2005 và các luật liên quan khác. Điều 631 BLDS cũng quy định về quyền thừa kế: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.2 Khái niệm và những đặc điểm của QSDĐ 1.1 Khái niệm QSDĐ Trong lịch sử Việt Nam từ 1980 trở về trước các Nhà nước đã thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai trong đó có sở hữu của Nhà nước và sở hữu tư nhân (trong Nhà nước phong kiến thì sở hữu của Nhà nước về đất đai còn gọi là sở hữu của nhà Vua hay đất của Vua).
Đối với đất đai thuộc sở hữu Nhà nước trong nhiều trường hợp Nhà nước trao QSDĐ đó cho các tổ chức và cá nhân sử dụng với những điều kiện nhất định. Như vậy, vấn đề đất đai thuộc sở 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hữu nhà nước và QSDĐ của Nhà nước được trao cho cá nhân, tổ chức đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử. Dưới góc độ là một khái niệm pháp lý, QSDĐ được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: - Thứ nhất: QSDĐ là một chế định pháp luật đất đai Với ý nghĩa này thì QSDĐ bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm thực hiện việc quản lý, sử dụng đất đai, cụ thể, đó là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh về các vấn đề quyền của Nhà nước đối với đất đai, quản lý Nhà nước về đất đai; chế độ sử dụng các loại đất; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; các thủ tục hành chính về quản lý và sử dụng đất đai… - Thứ hai, QSDĐ là một quan hệ pháp luật về đất đai: Quan hệ pháp luật này được thể hiện trên ba phương diện sau: + Quan hệ giữa đại diện chủ sở hữu (Nhà nước) với người sử dụng đất được thể hiện trong mối quan hệ giữa các quyền: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt QSDĐ. Quyền của chủ sở hữu đối với đất đai là quyền mang tính tuyệt đối còn QSDĐ của người sử dụng đất chỉ là quyền phái sinh chịu sự lệ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai; + Quan hệ giữa những người sử dụng đất với nhau.
Quan hệ này được thực hiện thông qua các giao dịch mang tính dân sự như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế QSDĐ …; + Quan hệ giữa người sử dụng đất với các cơ quan quản lý Nhà nước như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường; Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND các cấp trong việc: giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất… Dưới góc độ là một chế định pháp luật đất đai và một quan hệ pháp luật đất đai như được phân tích ở trên thì QSDĐ chính là một phương thức thực 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai bởi chủ sở hữu đất đai mà đại diện là nhà nước không cần thiết và cũng không có đủ điều kiện để trực tiếp thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng đất đai của mình mà việc thực hiện các quyền đó của chủ sở hữu được thực hiện chủ yếu một cách gián tiếp thông qua việc: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất để các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất. Xây dựng, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Trao QSDĐ cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thông qua các hình thức:giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. Thông qua việc sử dụng đất của người sử dụng đất các ý tưởng, chủ trương, chính sách về sử dụng đất của nhà nước đã được “hiện thực hoá”. - Thứ ba, QSDĐ là một quyền năng chủ quan của chủ sở hữu và của người sử dụng đất.
Theo nghĩa này, QSDĐ là cách xử sự của người sử dụng đất trong việc thực hiện các quyền mà Nhà nước trao cho họ. Những quyền chủ quan này xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật khách quan đã nói ở trên và do các quy phạm đó quyết định. Người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền trong phạm vi mà pháp luật cho phép. Cụ thể, QSDĐ theo nghĩa chủ quan là tổng thể các quyền mà nhà nước trao cho người sử dụng đất để họ khai thác các thuộc tính có lợi của đất phục vụ cho mục tiêu nhất định của mình (ví dụ xây nhà, trồng lúa, hoa màu, nuôi cá…).
QSDĐ theo quy định của Luật Đất Đai 2003, là một khái niệm bao trùm để chỉ các quyền sau đây của người sử dụng đất: Chuyển đổi; Chuyển nhượng; Cho thuê; Cho thuê lại; Thế chấp; Bảo lãnh; Góp vốn; Thừa kế; Tặng cho QSDĐ (09 quyền). Chủ sở hữu và người sử dụng đất đều có quyền này nhưng quyền của chủ sở hữu mang tính tuyệt đối còn quyền của người sử dụng đất mang tính phái sinh từ quyền của chủ sở hữu biểu hiện thông qua việc người sử dụng đất phải chịu 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự điều chỉnh, giám sát của pháp luật và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc sử dụng đất.