Chương 1: Cơ sở lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NHÀ Ở 1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 1. Khái niệm thừa kế Thừa kế có vai trò quan trọng và đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội loài người, ngay cả khi chưa có Nhà nước và luật pháp thành văn, thừa kế đã tồn tại trong các hình thái Kinh tế - Xã hội song song với sự xuất hiện của con người. Theo một số nghiên cứu nhân học và xã hội học đã được thực hiện về phong tục thừa kế phụ hệ, nơi mà chỉ có con trai mới được kế thừa.
Một số nền văn hoá sử dụng sự kế thừa mẫu hệ, nơi tài sản chỉ có thể trao cho con gái, thông thường dành cho các con trai của em gái của người quá cố; một số xã hội, thừa kế từ mẹ sang con gái. Thời cổ đại và Quốc gia hiện đại thì thừa kế quân bình mà không phân biệt, đối xử theo giới tính hay thứ tự sinh ra. Nghiên cứu về thừa kế, Ph. Ăngghen viết: Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên người mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết.
Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn nên loại này trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ [14, tr. Cùng sự phát triển của lịch sử, tập quán thừa kế của thị tộc được nhà nước chiếm hữu nô lệ thừa nhận, điều chỉnh quan hệ thừa kế trong xã hội. Cho đến khi hình thái Kinh tế - Xã hội phát triển, làm thay đổi và ra đời nhiều ngành nghề mới từ nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt nên tất yếu người đàn ông trở thành trụ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cột chính nuôi sống gia đình. Địa vị của người đàn ông trong gia đình, các thị tộc, bộ lạc được thừa nhận làm thay đổi địa vị của người phụ nữ và quan hệ thừa kế theo chế độ mẫu quyền.
Ở nước ta, quan hệ thừa kế được hình thành trên cơ sở tập quán, thói quen của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc và nó đi sâu vào trong nhận thức của người dân. Qua thời kỳ lịch sử phát triển, chế định thừa kế được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản pháp luật nhưng tập quán thừa kế của nhiều tộc người đến nay vẫn được gìn giữ, lưu truyền đến ngày nay. Theo từ điểm luật học: “Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định pháp luật” [1, tr. Như vậy,có thể hiểu khái niệm: Thừa kế là việc chuyển giao tài sản cùng các quyền,nghĩa vụ gắn liền tài sản từ một người chết sang cho người còn sống theo di chúc hoặc quy định pháp luật.
Quyền thừa kế Mỗi con người sinh ra đều đã mang cho mình được quyền thực hiện ý chí không trái với pháp luật hoặc đạo đức xã hội.Trong đó, quyền thừa kế là một quyền quan trọng và trở thành một nhu cầu không thể thiếu gắn liền với đời sống của mỗi cá nhân. Mỗi nhà nước, mỗi giai cấp dù có những xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi vấn đề quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp. Trên thực tế đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền thừa kế: Theo quan điểm của TS. Phạm Văn Tuyết và TS.LS Lê Kim Giang thì: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” [44].
Theo cuốn từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì: “Quyền thừa kế là quyền để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” [1, tr.656] Quan hệ thừa kế xuất hiện, nhất là khi có Nhà nước và luật pháp thành 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn ra đời làm cho quan hệ thừa kế trở thành chế định riêng, trong đó quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thừa kế được ghi nhận, đảm bảo thực hiện không chỉ bằng pháp luật mà được điều chỉnh bởi đạo đức xã hội. Từ đó, khái niệm quyền thừa kế được xuất hiện đồng thời với quyền sở hữu, quyền và nghĩa vụ khác của chủ thể tham gia quan hệ thừa kế. Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống. Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là quyền dân sự của mỗi cá nhân trong việc để lại di sản cho người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật, nhưng chung quy lại đều phải đảm bảo được quyền của người để lại di sản.
Dưới gốc độ chủ quan, các chủ thể trong quan hệ thừa kế thì một người có quyền để lại di sản thừa kế là tài sản, thành quả lao động, các quyền, lợi ích của mình cho người khác thừa hưởng mà không bị hạn chế. Người thừa kế có quyền nhận di sản thừa kế là các giá trị vật chất, giá trị tinh thần và các quyền, nghĩa vụ liên quan khác của người có di sản để lại. Chế định về quyền thừa kế quy định về quyền tự định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể trong việc để lại di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời người nhận di sản cũng có quyền nhận di sản theo di chúc hoặc pháp luật. Hơn nữa, quyền sở hữu là một quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, dành cho họ quyền định đoạt tối cao.
Như vậy, quyền sở hữu và quyền thừa kế tài sản có mối quan hệ khăng khít và ngang nhau. Thực tế tài sản của mỗi con người có thể tồn tại lâu hơn một đời người, do đó cần có một cơ chế pháp lý điều chỉnh sự dịch chuyển các quyền tài sản của người chết sang cho người còn sống, việc chuyển dịch đó không chỉ đơn thuần là kế thừa các quyền mà còn cả nghĩa vụ của người đã khuất. Quyền thừa kế bản chất đó là một quyền dân sự của công dân, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959; 1980; 1992 và tại Điều 32 Hiến 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp năm 2013 quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” [22, Điều 32]. Việc bảo hộ này cũng được cụ thể hóa trong Luật Đất đai; Bộ luật Dân sự và một số văn bản pháp luật khác.
Bộ luật dân sự năm 2015 đã đưa ra khái niệm về quyền thừa kế với nội dung hoàn toàn mới, theo hướng nhấn mạnh quyền tự định đoạt của người lập di chúc có quyền chỉ định một tổ chức hưởng di sản của mình sau khi chết. Cụ thể, Điều 609 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc” [26, Điều 609]. Trên cơ sở các quan điểm, lý luận nêu trên tác giả cũng đưa ra quan điểm của mình về quyền thừa kế như sau: “Quyền thừa kế là quyền tự quyết của người nhận di sản.
Quyền thừa kế chỉ phát sinh khi người có di sản chết, những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc của người để lại di sản có thể nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản thừa kế của người chết”. Pháp luật hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở 1. Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo di chúc Di chúc là việc thể hiện ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc, do vậy pháp luật luôn tôn trọng và bảo hộ ý chí của người lập di chúc. Đối với di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở, người lập di chúc dựa vào tâm nguyện, tình cảm của mình với người khác mà định đoạt cho họ được hưởng quyền sử dụng đất ở và nhà ở.
Theo Điều 624 BLDS năm 2015 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Di chúc là cơ sở, căn cứ trong việc phân chia di sản của người chết để lại, việc chia thừa kế theo di chúc tùy thuộc vào việc người chết có để lại di chúc hay không. Tại Chương XXII - BLDS năm 2015 quy định một số vấn đề pháp lý về thừa kế theo di chúc, theo đó: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, về chủ thể lập di chúc. Theo quy định tại Điều 625 BLDS năm 2015: Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc [26, Điều 625].
Như vậy, người lập di chúc đối với di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở, là người mà có quyền sử dụng, định đoạt khối tài sản quyền sử dụng đất ở, nhà ở của mình cho những người khác còn sống sau khi chết. Người lập di chúc ở đây chỉ có thể là cá nhân mà không thể là cơ quan, tổ chức, còn tài sản của cơ quan, tổ chức là tài sản chung về chủ thể có quyền và được xử lý theo quy định pháp luật về doanh nghiệp.