CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ODA VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐỐI VỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM 1. Lý luận chung về nguồn vốn ODA 1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn ODA a, Khái niệm về nguồn vốn ODA Hỗ trợ phát triển chính thức hay viện trợ phát triển chính thức được gọi tắt là ODA bắt nguồn từ cụm từ tiếng Anh – Oficial Development Assistance. Hiện nay chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về Hỗ trợ phát triển chính thức.
Mỗi chính phủ, mỗi tổ chức có thể đưa ra khái niệm về ODA theo cách riêng của mình. Tuy nhiên có một số định nghĩa về ODA tương đối giống nhau và sát thực tiễn nhất : Theo Ủy ban Viện trợ phát triển : ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay được ưu đãi, được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển, được các cơ quan chính thức của các chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ. ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành – được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế.
Ủy ban viện trợ phát triển đưa ra khái niệm về ODA dưới góc độ của nhà tài trợ cho các nước đang và kém phát triển nhằm giúp các nước này phát triển kinh tế - xã hội thông qua các Hiệp định quốc tế. Tuy nhiên, khái niệm này của Ủy ban viện trợ phát triển quá chú trọng đến nguồn tài trợ song 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương, phù hợp với thực tế là Ủy ban này là cơ quan chủ trì về viện trợ song phương của các nước thuộc Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD). Theo Ngân hàng thế giới : ODA là một bộ phận của Quỹ Hỗ trợ phát triển trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại phải chiếm ít nhất 25 % trong tổng số viện trợ. Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm về ODA bao gồm cả viện trợ song phương và đa phương, tuy nhiên khái niệm này nhấn mạnh đến khía cạnh tài chính của ODA (ODA là tập hợp con của Quỹ Hỗ trợ phát triển chính thức ) mà không đề cập đến mục tiêu của ODA.
Theo định nghĩa của Nhật Bản : Một loại viện trợ muốn là ODA phải có đủ ba yếu tố : - Do chính phủ hoặc cơ quan thực hiện của Chính phủ cấp ; - Có mục đích góp phần phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nước nhận viện trợ ; - Tính ưu đãi phải trên 25 %. Trong đó tính ưu đãi là một chỉ số tổng hợp từ ba yếu tố : lãi suất, thời hạn trả nợ hoặc không trả lãi (còn gọi là thời gian ân hạn) trong tương quan so sánh với các yếu tố tương quan của Ngân hàng Thương mại. Nhật Bản đã đưa ra được khái niệm về ODA đầy đủ hơn so với khái niệm về ODA của Ủy ban viện trợ phát triển và Ngân hàng thế giới ở điểm đã xác định được rõ tính ưu đãi mà một khoản vay phải đạt được để có thể được coi là ODA. Nhưng cũng như Ủy ban viện trợ phát triển, Nhật Bản đưa ra khái niệm chú trọng đến ODA song phương, chưa đề cập đến ODA đa phương.
[ 2, tr 6] Theo quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ thì Hỗ trợ phát triển chính thức được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ bao gồm : - ODA không hoàn lại : là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho các nhà tài trợ. - ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi) là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố. [5,tr 2] b, Phân loại Hỗ trợ phát triển chính thức Tuỳ theo từng tiêu chí phân loại mà người ta có thể phân loại ODA như sau: Theo tính chất - Viện trợ không hoàn lại: các khoản cho không, không phải trả lại. - Viện trợ có hoàn lại: các khoản cho vay ưu đãi (vay tín dụng với điều kiện “mềm”) - Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức vay tín dụng.
Theo mục đích - Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội và môi trường. Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi. - Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cưú cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư phát triển thể chế và nguồn nhân lực v. loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại.
Theo điều kiện 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - ODA không ràng buộc: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng. - ODA có ràng buộc: +Bởi nguồn sử dụng: có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước ngoài tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương). +Bởi mục đích sử dụng: chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể. -ODA có thể ràng buộc một phần: một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi ở bất kỳ nơi nào.
Theo hình thức - Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể, có thể là hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi. - Hỗ trợ phi dự án gồm các loại hình như sau: +Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá được chuyển vào qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ cho ngân sách. +Hỗ trợ trả nợ.
+Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.Đặc điểm của nguồn vốn ODA Thời gian cho vay khá dài (thường từ 25 – 40 năm ), thời gian ân hạn từ 8 đến 10 năm. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khối lượng vốn vay lớn với lãi suất ưu đãi (từ 0 – 3 % năm). Do vậy, với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển, ODA ưu đãi hơn bất cứ một nguồn tài trợ nào khác. Thông thường, ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này không dưới 25% tổng số vốn ODA được tài trợ.
Đây chính là đặc điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. Việc tài trợ ODA của các nước phát triển thường đi kèm với các điều kiện ràng buộc. Tùy mục đích đầu tư của từng nhà tài trợ mà có những điều kiện ràng buộc khác nhau. Bên cạnh một số nhà tài trợ chỉ quan tâm đến yếu tố an toàn của việc viện trợ (thường đi kèm với các điều kiện như tốc độ phát triển kinh tế phù hợp, ổn định về chính trị) thì tồn tại những nhà tài trợ luôn ép các nước nhận tài trợ phải sử dụng dịch vụ hàng hóa (thậm chí hàng hóa dư thừa) của mình sản xuất ra hoặc sử dụng ODA như một phương tiện để điều chỉnh các chính sách kinh tế - chính trị của các nước nhận viện trợ theo hướng có lợi cho các nước tài trợ.
Một điểm nữa cần phải nhấn mạnh rằng ODA là nguồn vốn vay nợ của nước ngoài, là nguồn vốn mà nước đi vay sẽ thanh toán trong một thời gian nhất định. Chính vì vậy cần phải xem xét dự án viện trợ trong điều kiện tài chính tổng thể, nếu không, việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ lâu dài cho nền kinh tế. Sự cần thiết khách quan của việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho phát triển KT-XH Việt Nam Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7,5- 8%/năm, cần huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 2.200 nghìn tỷ đồng, tương đương với 160 tỷ USD mỗi năm, trong đó huy động từ nguồn vốn trong nước chiếm 65% và huy động từ nước nguồn vốn nước ngoài là 35%. Trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư huy động từ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước ngoài thì nguồn vốn ODA có ý nghĩa quan trọng và có tác dụng tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội nước ta.
Việt Nam đã tranh thủ được một nguồn vốn ODA khá lớn bổ sung cho đầu tư, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Trong 5 năm 2006 - 2010, đầu tư bằng vốn ODA chiếm khoảng 12% tổng đầu tư toàn xã hội, bằng 24% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và bằng 50% vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Với tỷ lệ vốn ODA trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, ODA đã góp phần nhất định vào tăng trưởng kinh tế. Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA qua các năm cụ thể như sau: Bảng 1.